Tin tức - Sự kiện
Tiềm năng Hà Tĩnh
Thông tin kinh tế - Xã hội
Chiến lược quy hoạch
Xúc tiến đầu tư
Đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp Hà Tĩnh
Tổ chức bộ máy
Dịch vụ hành chính công
Văn hóa - Du lịch
CÁC SỞ, BAN, NGÀNH, HUYỆN, THỊ, THÀNH PHỐ
LIÊN KẾT WEBSITE
thông tin cần biết
Mây mờMây mờ
Độ ẩm: 80 %
Gió Bắc
Tốc độ: 0 m/s
 
29 °C
(84.39) 3893893
portalhatinh@hatinh.gov.vn

Render webpart fail. Ex: Value does not fall within the expected range.
Hà Tĩnh: Tổng kết công tác Cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 
 
 
 

        Ngày 20/7/2010, tại Hà Tĩnh, Ban chỉ đạo Cải cách hành chính tỉnh Hà Tĩnh đã tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010. Tới dự và chỉ đạo Hội nghị có  Đồng chí Lê Văn Chất, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, các đồng chí Thường trực Tỉnh uỷ, Hội đồng Nhân dân, Chủ tịch UBMTTQ tỉnh và đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành đoàn thể cấp tỉnh, các huyện, thành phố, thị xã.

Hội nghị đã nghe Báo cáo tóm tắt tổng kết 10 năm chương trình tổng thể cải cách hành chính của tỉnh. Qua 10 năm triển khai thực hiện Quyết định 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề cương tổng thể CCHC giai đoạn 2001-2010 công tác cải cách hành chính của tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong đó có một số kết quả nổi bật cụ thể như sau:

Về Cải cách thể chế

Chất lượng và hiệu quả của hệ thống thể chế tỉnh nhà được nâng lên rõ rệt. Tỉnh đã chú trọng xây dựng và hoàn thiện thể chế trên tất cả các lĩnh vực, đã đạt được mục tiêu về cải cách thể chế đề ra. Hệ thống thể chế đồng bộ, thống nhất, đáp ứng được các dự án kinh tế trọng điểm và yêu cầu hội nhập.
Đã tổ chức thực hiện giao dịch theo cơ chế “một cửa” cấp huyện từ tháng 4/2002 trước ngày Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg về Quy chế thực hiện cơ chế một cửa 17 tháng. Đến ngày 30/12/2005 đã tổ chức thực hiện 262/262 đơn vị cấp xã.
Về thực hiện một cửa liên thông: Thực hiện Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 44/2007/QĐ-UBND quy định thực hiện cơ chế một cửa liên thông trên 2 lĩnh vực: đất đai và lao động-TBXH tại UBND các xã, phường, thị trấn.
Kết quả: Đã có 262/262 đơn vị cấp xã và 11/12 đơn vị cấp huyện thực hiện cơ chế một cửa liên thông; tiếp nhận 243.614 hồ sơ, trả đúng hẹn 90,40%, trả chậm 3,01%, đang giải quyết 5,96%.

 Về Cải cách tổ chức bộ máy hành chính

Thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, kết quả từ chỗ có 27 sở, ngành cấp tỉnh đến nay chỉ còn 19 Sỏ, ngành (giảm 8) và 14 phòng cấp huyện, nay chỉ còn 12 (giảm 2 đơn vị/huyện).

Thực hiện Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 43/2008/QĐ-UBND ngày 24/12/2008 để thay thế các Quyết định số 177/2000/QĐ-UBND, Quyết định số 80/2005/QĐ-UBND, Quyết định số 24/2006/QĐ-UBND và Quyết định số 46/2006/QĐ-UBND, đã thực sự tạo chuyển biến tích cực, giảm bớt ách tắc, chậm trễ; từng bước làm rõ hơn hoạt động của cơ quan hành chính với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị.

 Về đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
UBND tỉnh đã ban hành danh mục các ngành nghề, chỉ tiêu và kế hoạch đào tạo sau đại học và tuyển dụng theo chính sách thu hút, kết hợp tinh giản biên chế đã nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC tham mưu thực thi công vụ.

Công tác quản lý đội ngũ CB,CC được cải cách theo hướng đẩy mạnh về phân công, phân cấp; Thẩm quyền và trách nhiệm trong bổ nhiệm, sử dụng, quyết định biên chế, tuyển dụng và quản lý công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp từng bước được xác định rõ hơn. UBND tỉnh đã có các quyết định phê duyệt cơ cấu chức danh công chức của từng cơ quan, đơn vị làm cơ sở cho việc quản lý, sử dụng, thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức giai đoạn 2003-2010 và xây dựng cơ cấu CCVC giai đoạn 2011-2015.

Thực hiện tuyển dụng theo chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng, thu hút đối với những người là Thạc sỹ, tốt nghiệp Đại học chính quy loại giỏi thuộc các ngành tỉnh có nhu cầu: 40 người.
Thường xuyên kiểm tra, thanh tra công vụ và xử lý cán bộ, công chức có hành vi vi phạm được duy trì theo Chỉ thị số 35/CT-TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong đội ngũ CB, CC, VC và CB, CS lực lượng vũ trang, Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 08/2008/CT-UBND của UBND tỉnh và Nghị định số 35/2005/NĐ-CP của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức. 

 Cải cách tài chính công

Công tác quản lý tài chính ngân sách giai đoạn 2006-2010 được thực hiện theo Luật Ngân sách, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Đối với các cấp chính quyền địa phương, việc quản lý điều hành ngân sách được thực hiện trên cơ sở Nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND tỉnh. Đối với các đơn vị thụ hưởng ngân sách thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và Nghị định số 115/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Thông qua việc giao dự toán ngân sách hàng năm, UBND tỉnh trình HĐND tỉnh giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan quản lý hành chính, đơn vị sự nghiệp trực thuộc; hướng dẫn chỉ đạo các cơ quan đơn vị xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ theo đúng quy trình. 
 Hiện đại hóa nền hành chính

a) Công tác hội họp, hội nghị đã được giảm đáng kể thực hiện đúng Quyết định số 114/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quy định chế độ hội họp trong cơ quan hành chính nhà nước, tình trạng quan liêu, giấy tờ đã được giảm xuống. Các báo cáo thực hiện tập trung vào yêu cầu cần báo cáo, đảm bảo ngắn gọn, chất lượng và đầy đủ thông tin. Tỉnh đã triển khai phòng giao ban trực tuyến với Chính phủ, bộ, ngành trung ương và đang xây dựng phòng giao ban trực tuyến giữa UBND tỉnh với các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố, thị xã.

Trong quá trình ban hành và chuyển văn bản, nhiều cơ quan đơn vị đã thực hiện gửi, chuyển qua mạng Internet hoặc mạng nội bộ để xử lý. Việc gửi và chuyển bản sao điện tử đã tiết kiệm được đáng kể giấy, mực in ấn và thời gian của cán bộ, công chức.

b) Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước.

Thực hiện Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Nghị định số 64/2007/NĐ-CP; Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg; Quyết định số 48/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo triển khai như xây dựng quy hoạch ứng dụng công nghệ thông tin giai đoạn 2006-2010 định hướng đến 2020; xây dựng Dự án phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông đến 2015; đề án đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ quan nhà nước; khảo sát quy hoạch vùng công nghiệp công nghệ thông tin; tiến hành xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin giai đoạn 2009-2010...

Các trang thông tin điều hành tác nghiệp (http://dhtn.hatinh.gov.vn); văn bản quy phạm pháp luật (http://qppl.hatinh.gov.vn); Cổng thông tin điện tử Hà Tĩnh (http://www.hatinh.gov.vn) cung cấp thông tin, cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Đã có 26 đơn vị đã và đang chuẩn bị sử dụng Văn phòng điện tử di động (M-Office) và 15 đơn vị đã có Trang thông tin điện tử phục vụ cho công dân và doanh nghiệp truy cập, tìm hiểu cơ hội đầu tư.

Với những kết quả trên, theo đánh giá và công bố của Hội tin học Việt Nam (tháng 11/2009), tỉnh Hà Tĩnh được xếp thứ 8/63 tỉnh, thành phố cả nước về mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin.

c) Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2000 và ISO 9001:2008 vào cơ quan hành chính nhà nước: Đến nay đã có 33 cơ quan hành chính nhà nước thực hiện xây dựng và áp dụng ISO (trong đó 12 đơn vị cấp huyện, và 21 đơn vị cấp tỉnh).

d) Hiện đại hoá công sở: Thực hiện Quyết định số 1441/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt kế hoạch đầu tư trụ sở cấp xã, bảo đảm yêu cầu CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Hội nghị cũng đã nêu ra những tồn tại còn gặp phải trong công tác CCHC 10 năm qua đó là :

a) Về thể chế:

Tính dự báo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của văn bản QPPL ở địa phương chưa cao, cơ chế để nhân dân tham gia xây dựng các văn bản QPPL chưa thực sự có hiệu quả; Công tác tham mưu văn bản Quy phạm pháp luật ở một số sở, ngành, địa phương còn hạn chế về chất lượng và thời gian. Vẫn còn tình trạng ban hành văn bản không đúng thẩm quyền tại một số địa phương. Công tác xử lý văn bản QPPL có sai sót nhiều lúc chưa kịp thời, thiếu nghiêm túc. Việc tăng cường năng lực xây dựng văn bản của các cơ quan, đơn vị, cá nhân chưa đồng đều và vẫn còn những hạn chế nhất định.
- Việc thực hiện cơ chế một cửa và một cửa liên thông tại một số đơn vị còn mang tính hình thức, chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc chưa cao.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất: diện tích phòng làm việc, trang thiết bị, chế độ phụ cấp, trang phục cho cán bộ trực tiếp làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các cấp, các ngành chưa đảm bảo theo quy định và chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao.

b) Về Tổ chức bộ máy: Tổ chức bộ máy bên trong của một số cơ quan, đơn vị chưa được tinh gọn. Thực hiện phân công, phân cấp chưa được đẩy mạnh nhận thức của một số sở, ban, ngành, UBND các cấp, CB, CC,VC chưa sâu sắc, đồng bộ. Bộ máy tuy có giảm về số đầu mối, nhưng chưa giảm được biên chế, một số cơ quan sau khi sắp xếp thừa biên chế nhân viên phục vụ, tạp vụ nhưng lại thiếu biên chế chuyên môn. Chất lượng cán bộ công chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Mô hình sở đa ngành, đa lĩnh vực còn nhiều vấn đề mới trong quản lý, nhưng chưa đúc rút kinh nghiệm trong chỉ đạo, quản lý kịp thời.

c) Về đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức: Đội ngũ cán bộ, công chức tuy đảm bảo trình độ về bằng cấp, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, bố trí công tác chưa đúng chuyên môn còn nhiều, việc tuyển dụng đầu vào theo quy định vẫn còn hình thức, nhất là căn cứ điểm thi môn ngoại ngữ, diện ưu tiên chính sách.

d) Về cải cách tài chính công: Một số cơ quan chưa thật sự quyết tâm chỉ đạo để triển khai thực hiện; về nhận thức chủ trương thực hiện cơ chế tự chủ của một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao, chưa gắn việc sử dụng kinh phí với chất lượng, hiệu quả công việc.

e) Về hiện đại hóa nền hành chính: Ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế, hạ tầng mạng công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu phát triển chung, thiếu đồng bộ. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin còn thiếu và yếu, không đồng đều, nhất là nhân lực chuyên trách có trình độ cao; Việc xây dựng trụ sở cấp xã triển khai chậm, nguồn vốn ngân sách đầu tư cho chương trình còn thấp, thậm chí nhiều xã chưa có kế hoạch vốn để đầu tư xây dựng./.

Phan Thị Thúy Hường – Chuyên viên Sở Nội vụ Hà Tĩnh

 

 

Render webpart fail. Ex: Value does not fall within the expected range.
Render webpart fail. Ex: Value does not fall within the expected range.
Giấy phép số 48/ GP-BVHTT ngày 18 - 02 - 2003 của Bộ Văn hóa Thông tin
Cơ quan chủ quản: UBND tỉnh Hà Tĩnh | Cơ quan thường trực: Sở Thông tin Truyền thông
Điện thoại: (84.39) 3893893. E-mail: webhatinh@hatinh.gov.vn
Ghi rõ nguồn www.hatinh.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này