Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn: Tôn vinh một trí tuệ Bách khoa Đại Việt

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Lê Quý Đôn (1726 - 2026) là dịp tôn vinh bậc vĩ nhân bách khoa có công làm giàu nền văn hiến dân tộc. Với những cống hiến và cách nhìn vượt thời đại của ông đã được UNESCO vinh danh, là động lực tinh thần to lớn thúc đẩy khát vọng đổi mới, sáng tạo và góp phần xây dựng đất nước phồn vinh trong kỷ nguyên mới.

Lê Quý Đôn (1726 – 1784) - Nhà bác học lớn, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Ảnh: Internet

Từ "thần đồng" đất Sơn Nam đến bậc đại khoa mẫn cán

Lê Quý Đôn (1726 – 1784), tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ra trong một gia đình khoa bảng tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là một "thần đồng" với trí nhớ phi thường, tư chất thông minh và tinh thần hiếu học hiếm có.

Con đường khoa cử của ông ghi dấu nhiều thành tích xuất sắc: 17 tuổi đỗ đầu kỳ thi Hương, 24 tuổi đỗ đầu kỳ thi Hội và năm 26 tuổi đỗ đầu kỳ thi Đình, được phong Bảng nhãn.

Bước vào quan trường từ năm 1752, Lê Quý Đôn đảm nhiệm nhiều trọng trách của triều Lê – Trịnh như Hàn lâm viện Thừa chỉ, Toản tu Quốc sử quán, Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Tán lý quân vụ, Bồi tụng, Tổng tài Quốc sử quán, Hiệp trấn Thuận Hóa và Công bộ Thượng thư.  Dù ở bất kỳ cương vị nào, ông luôn thể hiện phẩm chất của một vị quan tài năng, tận tụy, thanh liêm và gần gũi Nhân dân.

Năm 1784, ông lâm bệnh nặng, xin về quê ngoại ở Duy Tiên, Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) an dưỡng và qua đời không lâu sau đó. Triều đình đã bãi triều ba ngày để tưởng nhớ và bày tỏ lòng tiếc thương đối với ông.

(Ảnh: Nguồn Internet)

 

Đỉnh cao học thuật và danh hiệu "nhà bác học bách khoa"

Lê Quý Đôn được xem là hình mẫu tiêu biểu của một nhà bác học bách khoa trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến. Tầm vóc trí tuệ của ông thể hiện ở sự uyên bác trên nhiều lĩnh vực, từ triết học, sử học, địa lý, văn học đến kinh tế, giáo dục, thiên văn học và nông nghiệp.

Trong bối cảnh chính trị - xã hội Đại Việt thế kỷ XVIII nhiều biến động, đất nước bị chia cắt, các cuộc tranh chấp quyền lực diễn ra liên miên, đời sống Nhân dân gặp nhiều khó khăn, Lê Quý Đôn luôn đau đáu hoài bão "kinh bang tế thế". Bằng tư duy cải cách và tầm nhìn sâu rộng, ông đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện pháp chế, củng cố nền trị quốc, phát triển kinh tế, ổn định xã hội và chăm lo đời sống Nhân dân. Những tư tưởng đó không chỉ được thể hiện trong hoạt động chính trị mà còn xuyên suốt trong toàn bộ di sản học thuật đồ sộ mà ông để lại.

Sự đóng góp vĩ đại của ông thể hiện qua khả năng hệ thống hóa, tổng kết tri thức đồ sộ của thời đại với một phương pháp nghiên cứu khoa học, thực chứng vô cùng độc đáo. 

Một số tác phẩm tiêu biểu:

+ Về lịch sử, địa lý:

- Đại Việt thông sử (Lê triều thông sử), 30 quyển (1749 – 1753).
- Phủ biên tạp lục, 6 quyển (1776).
- Bắc sứ thông lục, 4 quyển (1763; viết lời tựa năm 1780).
- Kiến văn tiểu lục, 12 quyển (1777).

- Khảo cứu, chú giải kinh điển

- Âm chất văn chú, 2 quyển (1781 – 1782).
- Tứ thư ước giải, 5 quyển (khắc in năm 1839).
- Quần thư khảo biện, 4 quyển (1757 – 1761).
- Thánh mô hiền phạm lục, 12 quyển (1759).
- Vân đài loại ngữ, 4 quyển (1773).
- Thư kinh diễn nghĩa, 3 quyển (1772).

+ Sưu tập thi ca

- Toàn Việt thi lục, 20 quyển (soạn năm 1768).

- Hoàng Việt văn hải, 10 quyển.

+ Thơ văn sáng tác:

- Quế Đường thi tập, tổng tập gồm khoảng 550 bài thơ chữ Hán, phản ánh tư tưởng, nhân sinh quan và phong cách nghệ thuật của Lê Quý Đôn.

- Các tác phẩm viết bằng chữ Nôm: Lê Quý Đôn là một trong những học giả tiên phong sử dụng chữ Nôm trong văn bản hành chính và được xem là một trong những người viết ký bằng văn xuôi Nôm sớm của Đại Việt. Tiêu biểu là bài Khải được lưu trong Bắc sứ thông lục.

- Rắn đầu biếng học, thể thơ thất ngôn bát cú.

- Mẹ ơi con muốn lấy chồng, thể văn kinh nghĩa dùng trong thi cử.

- Mẹ khuyên con lúc về nhà chồng, thể văn kinh nghĩa.

- Lấy chồng cho đáng tấm chồng, thể văn sách dùng trong thi cử.

Không chỉ có đóng góp to lớn cho nền học thuật trong nước, với tư cách là một sứ thần tiêu biểu của Đại Việt, Lê Quý Đôn còn góp phần mở rộng giao lưu văn hóa, khẳng định trí tuệ và bản lĩnh của dân tộc trên trường quốc tế.

Ghi nhận những cống hiến to lớn ấy, tại Kỳ họp lần thứ 43 Đại hội đồng UNESCO diễn ra ngày 31/10/2025 tại Samarkand (Uzbekistan), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.

Ảnh: Tượng đài Hải Thượng Lãn Ông trên đỉnh núi Minh Tự, xã Hương Sơn. Nguồn: Báo Hà Tĩnh

Phát huy giá trị di sản trong kỷ nguyên mới

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn, có thể thấy nhiều tư tưởng của ông vẫn giữ nguyên giá trị và ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. Đó là những giá trị tiêu biểu:

- Tinh thần "dĩ công vi thượng": Lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và Nhân dân làm mục tiêu phụng sự cao nhất; đề cao tinh thần trách nhiệm, ý chí cống hiến, khuyến khích đội ngũ cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

- Tư tưởng "dân là gốc của nước": Đề cao vai trò của Nhân dân trong quản trị quốc gia; coi trọng sự kết hợp hài hòa giữa đức trị và pháp trị, hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

- Đề cao thực học và trọng dụng nhân tài: Phê phán lối học hình thức, giáo điều; coi trọng học đi đôi với hành, lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo giá trị của tri thức. Những tư tưởng này vẫn có ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

- Khuyến khích đổi mới sáng tạo và tiếp thu tinh hoa nhân loại: Tấm gương tự học, tinh thần cầu thị và tư duy cởi mở của Lê Quý Đôn tiếp tục truyền cảm hứng cho việc phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 – 2026) không chỉ là dịp tôn vinh một bậc hiền tài của dân tộc, mà còn là cơ hội để bồi đắp bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Học tập và phát huy di sản học thuật, tư tưởng của ng là hành động thiết thực để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, hạnh phúc và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Xem nhiều nhất