Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh quý II và 6 tháng đầu năm 2026

Trong sáu tháng đầu năm 2026, mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng kinh tế tỉnh Hà Tĩnh vẫn duy trì được đà phục hồi và đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ. Kết quả này có được nhờ sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh; cùng với sự nỗ lực vượt bậc của cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp Nhân dân trong toàn tỉnh. Hầu hết các ngành, lĩnh vực chủ yếu đều ghi nhận những kết quả tích cực, đáp ứng yêu cầu phát triển đề ra. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng GRDP của Hà Tĩnh tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, khẳng định rõ hiệu quả công tác điều hành, khả năng khai thác tốt các động lực tăng trưởng và tạo dựng nền tảng vững chắc để phấn đấu hoàn thành toàn diện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2026.

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

1.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP)

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 67.468 tỷ đồng; theo giá so sánh ước đạt 55.977 tỷ đồng tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh quý II năm 2026  ước tăng 12,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 1,12%, đóng góp 0,19 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 27,51%, đóng góp 9,97 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 5,99% đóng góp 2,23 điểm %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 5,29%, đóng góp 0,49 điểm % vào mức tăng trưởng chung.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh ước tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 1,72%, đóng góp 0,24 điểm % vào mức tăng trưởng chung; khu vực Công nghiệp, xây dựng tăng 24,25%, đóng góp 9,40 điểm %; khu vực Dịch vụ tăng 6,73% đóng góp 2,53 điểm %; thuế sản phẩm trừ trở cấp sản phẩm tăng 6,41%, đóng góp 0,62 điểm % vào mức tăng trưởng chung.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế, vừa bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, vừa nâng cao đời sống nhân dân. Sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm nay diễn ra trong thời tiết không mấy thuận lợi. Tuy nhiên, với quan điểm linh hoạt trong sản xuất bà con nông dân bám đồng quyết tâm khắc phục hậu quả sau mưa giông, vì vậy năng suất, sản lượng các loại cây trồng ước đạt kế hoạch. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, ngành nông nghiệp tăng 0,58%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp tăng 13% đóng góp 0,13 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,16%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung toàn ngành kinh tế tỉnh Hà Tĩnh.

Trong khu vực công nghiệp, xây dựng, ngành công nghiệp Hà Tĩnh đóng vai trò đầu tàu, là động lực chính trong tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng toàn ngành công nghiệp ước đạt 28,34%, đóng góp 8,5 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Riêng ngành xây dựng tăng 10,21%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng được dự báo tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của tỉnh trong năm 2026, đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng để Hà Tĩnh hoàn thành, thậm chí vượt mục tiêu tăng trưởng GRDP đã đề ra. Điểm nhấn nổi bật của ngành công nghiệp Hà Tĩnh trong 6 tháng đầu năm 2026 là sự tham gia đồng loạt của nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao. Trong đó, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng đi vào vận hành ổn định đã góp phần gia tăng đáng kể sản lượng điện sản xuất. Bên cạnh đó, dự án Nhà máy sản xuất ô tô điện và xe máy điện đã từng bước đi vào hoạt động, hình thành ngành công nghiệp chế tạo mới, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng hiện đại. Cùng với đó, hoạt động mở rộng công suất của Nhà máy Pack Pin và sự tham gia sản xuất của Nhà máy Cell Pin đã tạo thêm động lực tăng trưởng cho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao. 

Ngoài những dự án động lực mới, các ngành công nghiệp chủ lực hiện có trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì hoạt động ổn định, đặc biệt là ngành luyện thép, sản xuất điện, công nghiệp hỗ trợ và vật liệu xây dựng. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp lớn được duy trì, góp phần bảo đảm tăng trưởng giá trị tăng thêm của toàn ngành công nghiệp. Đồng thời, tiến độ triển khai các dự án đầu tư xây dựng trọng điểm, hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế và các công trình giao thông quan trọng tiếp tục được đẩy mạnh, tạo động lực cho ngành xây dựng tăng trưởng tích cực. Với những yếu tố thuận lợi trên, khu vực công nghiệp và xây dựng được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao trong các quý cuối năm, đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GRDP của tỉnh năm 2026.

Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2026 tăng 6,73% so với cùng kỳ, đóng góp 2,53 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Cho thấy sự phục hồi của khu vực dịch vụ chưa đồng đều, mức tăng này do ảnh hưởng của chỉ số giá tăng nên sức cầu nội địa và các hoạt động thương mại, vận tải, lưu trú, ăn uống, logistics, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp chưa đạt kỳ vọng. Đây đều là những lĩnh vực có tính lan tỏa lớn, liên quan trực tiếp đến tiêu dùng, lưu thông hàng hóa, du lịch và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; vì vậy, sự chậm lại của khu vực dịch vụ đã tác động đáng kể đến tăng trưởng chung của tỉnh.

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 6,41% đóng góp 0,62 điểm phần trăm tăng trưởng.

Về cơ cấu kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 12,15%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 43,74% (trong đó, ngành Công nghiệp chiếm 34,41%; ngành xây dựng chiếm 9,33%); khu vực Dịch vụ chiếm 34,94%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,17% trong tổng GRDP toàn tỉnh.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng toàn tỉnh tập trung thu hoạch vụ Xuân và triển khai sản xuất vụ Hè Thu theo đúng khung thời vụ; các giống cây trồng có khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng với điều kiện thời tiết bất lợi tiếp tục được đưa vào sản xuất. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định.

2.1. Sản xuất nông nghiệp

a. Trồng trọt

* Cây hàng năm

Tháng 6 năm 2026, hoạt động trồng trọt trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung phơi, bảo quản và tiêu thụ lúa vụ Đông Xuân sau thu hoạch; đồng thời khẩn trương làm đất, chuẩn bị các điều kiện để gieo cấy vụ Hè Thu.

Kết quả sản xuất vụ Đông Xuân 2026: Tổng diện tích gieo cấy lúa toàn tỉnh ước đạt 58.611 ha, bằng 98,88% giảm 665 ha so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giảm chủ yếu do thu hồi đất phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Toàn tỉnh có khoảng 4.300 ha áp dụng công nghệ tưới ngập - khô xen kẽ (AWD) và hơn 150 ha thí điểm sản xuất giảm phát thải gắn với thâm canh lúa cải tiến (SRI). Trong thời gian tới, kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ dự kiến sẽ được mở rộng trên 23 xã, phường với diện tích tăng thêm khoảng 5.400 ha, nâng tổng diện tích áp dụng lên gần 9.800 ha. Năng suất lúa vụ Đông Xuân năm 2025 - 2026 ước đạt 61,02 tạ/ha, bằng 99,62% (giảm 0,23 tạ/ha) với sản lượng lúa ước đạt 357.671 tấn, bằng 98,50% so với cùng kỳ năm trước, giảm 5.444 tấn, tương ứng giảm 1,50%.

Ngoài ra kết quả sản xuất một số cây trồng cạn khác như ngô, khoai lang, lạc mặc dù diện tích gieo trồng giảm do một phần đất sản xuất nông nghiệp được thu hồi để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội tuy nhiên năng suất các loại cây vẫn đạt khá, đặc biệt rau các loại tăng cả về diện tích và sản lượng.

Sản xuất vụ Hè Thu năm 2026 được các địa phương triển khai đúng tiến độ, diện tích lúa được gieo cấy bảo đảm kế hoạch, tính đến ngày 20/6/2026, toàn tỉnh gieo cấy khoảng 43,59 nghìn ha lúa Hè Thu. Cây màu tiếp tục được bố trí phù hợp với điều kiện sản xuất và nhu cầu thị trường, tuy nhiên diện tích một số loại cây trồng có xu hướng giảm so với cùng kỳ.

Tình hình sâu bệnh, thiệt hại: Trên cây lúa Ốc bươu vàng phát sinh gây hại ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, tập trung trên những diện tích ngập nước, sâu trũng, mật độ trung bình 2-3 con/m2, nơi cao 7-10 con/m2, diện tích nhiễm 103 ha; Chuột gây hại tỉ lệ trung bình 2-3%, cục bộ 5-10%, diện tích nhiễm 15 ha, Sâu cuốn lá đã xuất hiện tại một số địa phương, trên những diện tích gieo cấy sớm, ruộng xanh tốt, mật độ phổ biến 2-3 con/m2, nơi cao 5-10 con/m2, sâu chủ yếu tuổi 2, tuổi 3…Trên cây ngô Sâu keo mùa thu gây hại trên trà ngô 4-6 lá, diện tích nhiễm 05 ha, phân bố tại một số xã trên địa bàn.

* Cây lâu năm

Tổng diện tích hiện có cây lâu năm 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 30.675 ha, bằng 98,20% (giảm 563 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Diện tích cây lâu năm giảm chủ yếu do thu hồi đất phục vụ các dự án và chuyển đổi những diện tích cây già cỗi, kém hiệu quả.
Trong quý II năm 2026, sản lượng của một số loại cây ăn quả trên địa bàn ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước, cho thấy tín hiệu tích cực từ sản xuất nông nghiệp. Mặc dù thời tiết trong quý II năm nay không thực sự thuận lợi với những đợt mưa nắng xen kẽ và khó dự báo, song vẫn tạo điều kiện nhất định cho cây trồng sinh trưởng, phát triển và đạt năng suất cao. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng cây ăn quả ước đạt 36.733 tấn, bằng 102,45% (tăng 879 tấn) so với cùng kỳ năm 2025.

Sản lượng cao su ước đạt 1.677 tấn, bằng 106,27% (tăng 99 tấn) so với cùng kỳ năm 2025 do diện tích khai thác ổn định, cây sinh trưởng tốt và điều kiện khai thác mủ thuận lợi, giúp nâng cao hiệu quả thu hoạch. Sản lượng chè búp ước đạt 6.220 tấn, tăng 155 tấn so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng chè hái lá ước đạt 11.875 tấn, tăng 126 tấn. Mặc dù diện tích chè giảm so với cùng kỳ, việc đẩy mạnh thâm canh, cải tạo diện tích chè hiện có và tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăm sóc đã góp phần nâng cao năng suất, giúp sản lượng chè tăng so với cùng kỳ năm trước.

b. Chăn nuôi

Hoạt động chăn nuôi tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng giảm đàn gia súc lớn và duy trì tăng trưởng ở đàn lợn, gia cầm. Quy mô chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn, việc áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học ở một số hộ còn hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Bên cạnh đó, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa thực sự bền vững, thị trường đầu ra còn phụ thuộc nhiều vào biến động giá cả, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của người chăn nuôi.

Tổng đàn trâu, bò tiếp tục giảm do hiệu quả chăn nuôi chưa cao, chi phí thức ăn chăn nuôi và lao động tăng, trong khi diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp. Bên cạnh đó, người chăn nuôi có xu hướng chuyển đổi sang các đối tượng vật nuôi có thời gian quay vòng vốn nhanh và hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong khi đó, chăn nuôi gia cầm duy trì ổn định, tổng đàn và sản lượng xuất chuồng tăng nhẹ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường.

Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Tính đến ngày 19/6/2026 dịch tả lợn châu Phi xảy ra xảy ra tại 31/69 xã, phường, làm cho 1.591 con lợn mắc bệnh chết, tiêu hủy với khối lượng 133.627 kg. Cúm gia cầm có 900 con gia cầm mắc bệnh chết, tiêu hủy của 29 hộ chăn nuôi. Viêm da nổi cục xảy ra tại 3 xã (Kỳ Xuân, Kỳ Văn, Hương Xuân) làm cho 25 con bò mắc bệnh, 5 con chết, tiêu hủy, khối lượng 660 kg. Lở mồm long móng xảy ra tại xã Kỳ Thượng làm cho 4 con bò mắc bệnh Hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi tại xã Đồng Tiến chưa qua 21 ngày (đã qua 15 ngày không phát sinh dịch).

2.2. Lâm nghiệp

Sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì ổn định; công tác trồng rừng, khai thác lâm sản và bảo vệ rừng được triển khai theo kế hoạch.

Kết quả sản xuất: Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong tháng 6 ước đạt 57 nghìn cây. Tính chung quý II năm 2026, số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 372,75 nghìn cây, bằng 355% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng năm 2026 số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.348 nghìn cây bằng 86,94% giảm 202 nghìn cây so với cùng kỳ năm trước.

Về khai thác gỗ và lâm sản, sản lượng khai thác trong tháng ước đạt 3.499 m³, bằng 143,64% so với cùng kỳ năm trước. Quý II năm 2026 sản lượng gỗ khai thác ước đạt 207,96 m3 bằng 159,64% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 347,47 m3 bằng 143,47% so vớ cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác năm nay tăng cao chủ yếu do các địa phương đẩy mạnh khai thác tận thu diện tích rừng bị thiệt hại bởi các cơn bão số 5, số 6 và số 10 năm 2025 nhằm khôi phục sản xuất và tái trồng rừng.

Thiệt hại về rừng: Trong tháng 6 đã xảy ra 01 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 0,17 ha, giảm 06 vụ và giảm 0,59 ha so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 13 vụ phá rừng với diện tích thiệt hại 2,1 ha, chủ yếu tại khu vực Hương Khê và Hương Sơn. Các vụ vi phạm đã được phát hiện, xử lý kịp thời. Mặc dù thời tiết nắng nóng kéo dài, nguy cơ cháy rừng ở mức cao, công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được tăng cường. Trong tháng 6 không xảy ra vụ cháy rừng gây thiệt hại; lũy kế 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy rừng tại các xã Sơn Tiến, Hà Linh và Hương Bình, với tổng diện tích thiệt hại 6 ha.

2.3. Thủy sản

Kết quả sản xuất: Tổng sản lượng thủy sản tháng 6 ước đạt 5.680 tấn, bằng 102,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác tăng 2,88% và nuôi trồng tăng 2,34%. Tính chung quý II năm 2026, tổng sản lượng thủy sản đạt 15.662 tấn bằng 101,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác tăng 1,48% và nuôi trồng tăng 3,41%. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 30.231 tấn, tăng 2,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác tăng 2,58% và nuôi trồng tăng 3,43%.

Về khai thác thủy sản sản lượng trong tháng 6 ước đạt 4.101 tấn, bằng 102,88% so với cùng kỳ năm trước, tăng 115 tấn. Trong đó, khai thác biển đạt 3.702 tấn, tăng 103 tấn; khai thác nội địa đạt 402 tấn, tăng 12 tấn. Tính chung 6 tháng năm 2026, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 23.016 tấn, bằng 102,57% so với cùng kỳ năm trước, tăng 578 tấn. Trong đó, khai thác biển đạt 20.896 tấn, tăng 556 tấn; khai thác nội địa đạt 2.120 tấn, tăng 22 tấn. Sản lượng khai thác tăng nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và nguồn lợi thủy sản trên ngư trường khá phong phú. Tuy nhiên, chi phí nhiên liệu và vật tư đầu vào vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác của ngư dân, nhất là đối với hoạt động khai thác xa bờ.

Về nuôi trồng thuỷ sản sản lượng ước đạt 1.576 tấn, bằng 102,34% (tăng 36 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 7.215 tấn, bằng 103,43% so với cùng kỳ năm trước, tăng 239 tấn. Riêng sản lượng tôm thẻ chân trắng ước đạt 1.173 tấn, tăng 51 tấn so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Trong tháng bệnh đốm trắng trên tôm phát sinh trên diện tích 7,95 ha tại phường Hải Ninh. Các địa phương đã triển khai xử lý kịp thời các diện tích phát sinh dịch bệnh, hạn chế nguy cơ lây lan và giảm thiểu thiệt hại cho người nuôi. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, diện tích thủy sản bị dịch bệnh là 19,06 ha, chủ yếu do bệnh đốm trắng trên tôm. Công tác giám sát, phòng, chống dịch bệnh được các địa phương triển khai thường xuyên, góp phần hạn chế dịch bệnh lây lan trên diện rộng.

3. Sản xuất công nghiệp

Bước sang quý II năm 2026, ngành công nghiệp Hà Tĩnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sự đóng góp của các dự án trọng điểm và các doanh nghiệp sản xuất chủ lực. Việc Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II chính thức đi vào vận hành thương mại cùng với nhà máy sản xuất xe máy điện đưa vào hoạt động đã tạo thêm năng lực sản xuất mới cho ngành công nghiệp. Đồng thời, Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh duy trì sản xuất ổn định, bảo đảm sản lượng các sản phẩm chủ lực. Những kết quả này góp phần thúc đẩy tăng trưởng sản xuất công nghiệp, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2026.

3.1 Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp (IIP)

Ước tính tháng 6/2026, chỉ số sản xuất toàn ngành giảm 0,79% so với tháng trước và tăng 55,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng ước tăng 9,11% so với tháng trước và giảm 4,55% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo ước giảm 1,38% so với tháng trước và tăng 44,3% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện dự tính tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 121,05% so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước và xả lý rác thải dự ước tăng 5,74% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 6,83%.

So với cùng kỳ năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 55,79%, cho thấy năng lực sản xuất của các ngành công nghiệp chủ lực tiếp tục được cải thiện rõ nét. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là khu vực đóng góp lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Ngành sản xuất và phân phối điện cơ bản ổn định so với tháng trước đồng thời ghi nhận mức tăng rất cao 121,05% so với cùng kỳ nhờ các dự án nguồn điện mới đi vào vận hành và phát huy hiệu quả.

Quý II/2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 41,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành khai khoáng giảm 8,74%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 35,96%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 71,28%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,65% so với cùng kỳ năm trước. Ngành sản xuất kim loại, Pack Pin, Cell Pin, ô tô điện, xe máy điện và điện sản xuất đang là lợi thế tăng trưởng. Trong thời gian tới, thị trường của các sản phẩm chủ lực dự kiến sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh ước tăng 32,83% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,15% làm giảm 0,19 điểm vào mức tăng chung toàn ngành; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 30,67% đóng góp 23,17 điểm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 48,25% đóng góp 9,81 điểm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,55% đóng góp 0,04 điểm mức tăng chung toàn ngành công nghiệp Hà Tĩnh.

Công nghiệp Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2026, phát huy hiệu quả các động lực tăng trưởng, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong đó: Chỉ số sản xuất ngành sản xuất kim loại (thép) 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,23% so với cùng kỳ năm 2025. Động lực chính dẫn dắt sự hồi phục mạnh mẽ này xuất phát từ việc Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa đã chủ động khai thác và ký kết thành công các đơn hàng xuất khẩu quy mô lớn, tạo đà bứt phá cho năng lực sản xuất và tiêu thụ thép ngay từ những tháng đầu năm. Sản lượng thép không gỉ 6 tháng đầu năm ước đạt 2.091 nghìn tấn, tăng 13,28% so với cùng kỳ năm trước.

Các tháng đầu năm 2026, ngành sản xuất thiết bị điện tại Hà Tĩnh tiếp tục đà tăng trưởng từ năm 2025. Chỉ số sản xuất ngành này 6 tháng đầu năm tăng 42,59% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này có được nhờ nhu cầu sản xuất gia tăng, trong đó sản lượng từ nhà máy sản xuất ô tô điện của VinFast ngày càng tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất pack pin và các thiết bị điện liên quan mở rộng sản xuất. Sản lượng pack pin ước đạt hơn 42 nghìn pack, gấp 3 lần cùng kỳ; cell pin ước đạt 11 triệu cell, tăng 23,08% so với cùng kỳ năm 2025. Ước tính 6 tháng đầu năm 2026, ô tô điện đạt 37.676 chiếc, xe máy điện ước đạt 74.350. Đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng ngành công nghiệp, góp phần gia tăng sản lượng công nghiệp và giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.

Từ tháng 4/2026, nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II chính thức hoạt động thương mại với 2 tổ máy. Bên cạnh đó, các nhà máy sản xuất điện trên địa bàn duy trì vận hành ổn định, bảo đảm sản lượng phát điện theo kế hoạch. Đây là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành trong năm 2026. Tính đến hết tháng 6/2026, chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 48,25%; sản lượng điện sản xuất trên địa bàn 6 tháng đầu năm dự tính đạt 9,5 tỷ KWh, tăng 49,75% so với cùng kỳ năm trước.

Có thể thấy, điểm nhấn quan trọng trong bức tranh ngành Công nghiệp Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2026 chính là sự xuất hiện đồng loạt của các dự án công nghiệp động lực mới như Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng, Nhà máy sản xuất ô tô điện, xe máy điện, cùng với sự mở rộng công suất Pack Pin và sự tham gia của Cell Pin đã làm gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao.

3.2 Tình hình hoạt động một số ngành chiếm tỷ trọng lớn

Ước tính đến hết tháng 6 đầu năm 2026, trong 21 nhóm ngành công nghiệp cấp 2 có 16 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng và có 5 nhóm ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, một số nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 48,25%; Sản xuất thiết bị điện tăng 42,59%; Dệt tăng 21,86%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 20,74%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,05%; ...

Một số nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành: Khai thác quặng kim loại giảm 31,62%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 14,76%; sản xuất trang phục giảm 13,53%; khai khoáng khác giảm 11,64%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 2,8%.

3.3 Chỉ số tiêu thụ, tồn kho, tình hình sử dụng lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Trong tháng 6 năm 2026, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn Hà Tĩnh ước tăng 0,62% so với tháng trước, cho thấy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp tiếp tục được duy trì ổn định. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số tiêu thụ tăng 25,46%, phản ánh sự gia tăng nhu cầu đối với một số sản phẩm công nghiệp chủ lực và kết quả sản xuất kinh doanh tích cực của các doanh nghiệp trong ngành. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,39% so với cùng kỳ năm trước.

Ngành sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 26,02%, phản ánh nhu cầu đối với các sản phẩm thiết yếu tiếp tục duy trì ở mức cao. Ngành sản xuất đồ uống tăng 10,32%, cho thấy thị trường tiêu dùng nội địa có dấu hiệu cải thiện so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất sợi tăng 37,59%, phản ánh tác động tích cực từ sự phục hồi của ngành dệt may và nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng dệt. Ngành sản xuất kim loại tăng 15,59%, cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp nền tiếp tục duy trì ổn định và có sự cải thiện về tiêu thụ sản phẩm.

Nhìn chung, hoạt động tiêu thụ của các nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 có sự cải thiện khá đồng đều ở nhiều lĩnh vực. Kết quả này phản ánh xu hướng phục hồi của sản xuất công nghiệp và nhu cầu thị trường đối với các sản phẩm công nghiệp chủ lực.

Sang tháng 6/2026, chỉ số tồn kho ước tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 12,59% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy mức tăng tồn kho có xu hướng chậm lại so với tháng trước, đồng thời phù hợp với diễn biến tiêu thụ sản phẩm đang có xu hướng cải thiện. Hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tiếp tục duy trì tăng trưởng, trong khi tiêu thụ có sự cải thiện ở nhiều nhóm ngành, góp phần hỗ trợ kiểm soát tồn kho ở mức hợp lý. Một số ngành có mức tồn kho tăng nhẹ gắn với việc doanh nghiệp chủ động dự trữ nguyên vật liệu và thành phẩm nhằm đáp ứng các đơn hàng theo kế hoạch trong các tháng tiếp theo. Trong đó, doanh nghiệp sản xuất đồ uống tiếp tục duy trì công suất sản xuất ở mức cao (tăng 191%), các dây chuyền vận hành ổn định, qua đó hình thành lượng tồn kho cần thiết để đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường trong giai đoạn tiếp theo. Đối với ngành chế biến thực phẩm, may mặc hoạt động sản xuất đã phục hồi tích cực, nhiều doanh nghiệp chủ động tăng sản lượng, tạo nguồn hàng dự trữ nhằm sẵn sàng đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu trong thời gian tới. Bên cạnh đó, ngành sản xuất pin lithium ghi nhận mức tồn kho tăng mạnh (tăng 232,99%) do các nhà máy đẩy mạnh sản xuất với quy mô lớn. Nguyên nhân là nhu cầu pin phục vụ ngành công nghiệp ô tô điện đang gia tăng nhanh, buộc doanh nghiệp phải chuẩn bị nguồn cung từ sớm. Tuy nhiên, tốc độ tiêu thụ thực tế chưa theo kịp sản lượng sản xuất trong giai đoạn đầu năm, dẫn đến tồn kho tăng cao.

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 6/2026 giảm 0,05% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước tăng 58,52%. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2026 tăng 49,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình sử dụng lao động tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, phản ánh sự phục hồi và mở rộng hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp. Nhu cầu lao động tăng lên tại nhiều ngành công nghiệp chủ lực đã góp phần tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động trên địa bàn tỉnh.

Số lượng lao động tăng chủ yếu tập trung tại các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong lĩnh vực sản xuất pin và thiết bị điện, chế biến thực phẩm, sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại và các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khác. Đặc biệt, việc các dự án công nghiệp quy mô lớn trên địa bàn đi vào vận hành ổn định đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, góp phần thu hút lao động địa phương và lao động kỹ thuật từ các khu vực lân cận.

4. Tình hình thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thu hút đầu tư đạt kết quả tích cực, tăng cả về số lượng và quy mô so với cùng kỳ năm trước. Triển khai thực hiện các gói chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh.

4.1 Thu hút đầu tư

Từ đầu năm đến nay, đã chấp thuận chủ trương 27 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 155.000 tỷ đồng và 04 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 412,6 triệu USD (tăng 06 dự án và gấp 8 lần vốn đăng ký đối với dự án trong nước; tăng 02 dự án và gấp 31 lần vốn đăng ký đối với dự án đầu tư nước ngoài so với cùng kỳ năm 2025). Trong đó, có các dự án quy mô lớn được chấp thuận chủ trương đầu tư, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới, như: dự án Nhà máy sản xuất xe máy điện VinFast Hà Tĩnh (13.254 tỷ đồng), dự án Nhà máy sản xuất thép VinMetal Hà Tĩnh (79.986 tỷ đồng), dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Vũng Áng III (51.430 tỷ đồng), dự án Nhà máy thép không gỉ (9.800 tỷ đồng), Khu công nghiệp Hưng Long (3.019 tỷ đồng)... Phối hợp với PVN nghiên cứu, xây dựng Đề án Trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái tại KKT Vũng Áng.

4.2. Tình hình đăng ký kinh doanh

Tính đến ngày 26/6/2026, toàn tỉnh có 1.179 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký 11.601 tỷ đồng, gấp 2 lần về số lượng doanh nghiệp, và gấp gần 4 lần số vốn đăng ký; có 327 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 40,34%; 294 doanh nghiệp giải thể, tăng 105,59%; 392 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 18,84% so với cùng kỳ năm 2025.

Thời gian vừa qua, Hà Tĩnh tiếp tục tập trung chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan đến hồ sơ, thủ tục; triển khai các giải pháp đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp, kịp thời thông tin, tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Tuy nhiên do sự tác động tiêu cực từ lạm phát, suy thoái nền kinh tế thế giới, đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình trình sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, tiêu dùng của người dân và các doanh nghiệp... Vì vậy số lượng doanh nghiệp giải tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

4.3. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả khảo sát doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy trong quý II/2026, hai khó khăn lớn nhất được doanh nghiệp phản ánh là nhu cầu thị trường trong nước thấp (50,98% doanh nghiệp lựa chọn) và tính cạnh tranh của hàng trong nước cao (68,63%). Bên cạnh đó, thiếu nguyên, nhiên vật liệu cũng là khó khăn được 27,45% doanh nghiệp phản ánh. Các doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh quý III/2026 có nhiều chuyển biến tích cực so với quý trước. Có 41,18% doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất, kinh doanh tốt hơn, 50,98% cho rằng ổn định và chỉ 7,84% đánh giá khó khăn hơn. Dự báo 98,04% doanh nghiệp có khối lượng sản xuất tăng hoặc giữ nguyên; 90,02% dự kiến đơn đặt hàng tăng hoặc ổn định; 88,24% doanh nghiệp giữ nguyên hoặc tăng quy mô lao động.

Triển vọng 6 tháng cuối năm 2026 tiếp tục khả quan. Có 49,02% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng và 49,02% dự báo ổn định so với 6 tháng đầu năm. Đồng thời, 92,16% doanh nghiệp kỳ vọng đơn đặt hàng mới tăng; 92,31% đánh giá thị trường xuất khẩu mở rộng hoặc giữ ổn định. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, 23,53% doanh nghiệp dự kiến tăng và 66,67% giữ nguyên số lượng lao động. Nhìn chung, mặc dù vẫn chịu tác động của nhu cầu thị trường trong nước thấp, sức ép cạnh tranh và một số hạn chế về nguyên vật liệu, lao động, doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo trên địa bàn Hà Tĩnh đều kỳ vọng tình hình sản xuất, kinh doanh trong quý III và 6 tháng cuối năm 2026 tiếp tục phục hồi, duy trì đà tăng trưởng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng công nghiệp và kinh tế của tỉnh.

5. Thương mại, dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại, dịch vụ 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Mặc dù thị trường thế giới còn nhiều biến động, làm gia tăng chi phí vận chuyển quốc tế, song kinh tế trong nước và địa phương vẫn giữ được sự ổn định nhờ kiểm soát tốt giá xăng dầu và các chi phí đầu vào. Nguồn cung hàng hóa trên thị trường luôn dồi dào, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc tăng giá bất thường.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 6/2026 ước đạt 5.406,59 tỷ đồng, tăng 8,19% so với tháng trước và tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng cao chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng gia tăng trong dịp hè, tập trung ở các mặt hàng điện lạnh, đồ gia dụng, thời trang và các mặt hàng phục vụ sinh hoạt. Cùng với đó, hoạt động du lịch biển bước vào mùa cao điểm đã thúc đẩy tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tại các địa phương. Tính chung quý II/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.584,12 tỷ đồng, tăng 2,86% so với quý trước và tăng 17,19% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 30.735,074 tỷ đồng, tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong 12 nhóm hàng hóa có 10 nhóm hàng hóa tăng trưởng dương  trong khi đó nhóm hàng gỗ và vật liệu xây dựng giảm 2,59% và sửa chữa ô tô, xe máy, xe có động cơ khác giảm 1,63% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm ô tô dưới 9 chỗ và phương tiện đi lại tiếp tục ghi nhận mức tăng khá nhờ nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống, các chương trình ưu đãi của doanh nghiệp và xu hướng sử dụng phương tiện tiết kiệm nhiên liệu. Bên cạnh đó, nhóm lương thực, thực phẩm và đồ dùng gia đình duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển chung của thị trường bán lẻ.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tháng 6 ước đạt 632,82 tỷ đồng, tăng 8,51% so với tháng trước và tăng 16,42% so với cùng kỳ năm trước. Kỳ nghỉ hè cùng với thời tiết thuận lợi đã thu hút lượng lớn du khách đến các khu du lịch biển của tỉnh, qua đó làm gia tăng nhu cầu lưu trú, ăn uống và các dịch vụ du lịch. Đồng thời, việc duy trì niêm yết giá, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và triển khai các chương trình kích cầu tiếp tục góp phần nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến. 

Quý II/2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 1.760,34 tỷ đồng, tăng 1,19% so với quý trước và tăng 17,96% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm đạt 3.242,11 tỷ đồng, tăng 15,61% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch, tổ chức lễ hội và khai trương mùa du lịch biển ngay từ đầu năm, cùng với việc nâng cao chất lượng dịch vụ và ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động du lịch, góp phần duy trì lượng khách và doanh thu ở mức tích cực.

Doanh thu dịch vụ khác tháng 6 ước đạt 877,22 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 10,98% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, các hoạt động nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng khá nhờ nhu cầu của học sinh, sinh viên trong dịp nghỉ hè, trong khi doanh thu nhóm giáo dục và đào tạo giảm theo tính chất mùa vụ. Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 5.010,45 tỷ đồng, tăng 10,57% so với cùng kỳ năm trước. 

Nhìn chung, hoạt động của nhóm ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong những tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì mạch tăng trưởng ổn định, có sự phân hóa theo tính chất chu kỳ và nhu cầu thực tế của thị trường. Mặc dù chịu sức ép từ chi phí nhiên liệu đầu vào và áp lực bệnh dịch mùa hè, song với sự điều hành linh hoạt của các cấp chính quyền cùng khả năng tự cân đối, thích ứng của các đơn vị kinh doanh, nhóm ngành dịch vụ khác đã khẳng định tốt vai trò bình ổn và bảo đảm chất lượng cuộc sống nhân dân. Đây chính là tiền đề quan trọng để khối dịch vụ này tiếp tục vận hành ổn định, đóng góp bền vững vào bức tranh phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh nhà trong thời gian tới.

5.2. Hoạt động vận tải

Hoạt động vận tải và kho bãi 6 tháng đầu năm trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục duy trì đà tăng ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Nhu cầu đi lại của người dân tăng trong mùa du lịch hè cùng với hoạt động lưu thông hàng hóa diễn ra sôi động đã góp phần thúc đẩy doanh thu ngành vận tải. Các doanh nghiệp vận tải tiếp tục đầu tư nâng cấp phương tiện, nâng cao chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa hoạt động khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Doanh thu vận tải, kho bãi tháng 6 ước đạt 862,47 tỷ đồng, tăng 4,19% so với tháng trước và tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hành khách ước đạt 165,84 tỷ đồng, tăng 2,11% so với tháng trước và tăng 16% so với cùng kỳ năm trước; Vận tải hàng hóa ước đạt 503,44 tỷ đồng, tăng 5,08% so với tháng trước và tăng 22,33% so với cùng kỳ năm trước, trong tháng, nhiều công trình xây dựng bước vào giai đoạn thi công cao điểm khiến nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu tăng cao. Đồng thời, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng như đồ gia dụng, nước giải khát, đồ uống có cồn, hàng may mặc cũng tăng theo mùa.

Quý II/2026, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục tăng trưởng khá, ước đạt 2.481,97 tỷ đồng, tăng 20,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vận tải hàng hóa giữ vai trò chủ đạo với mức tăng 17,98%, vận tải hành khách tăng 15,89%. Dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, lần lượt tăng 31,68% và 33,78%, phản ánh nhu cầu vận chuyển, logistics và thương mại trên địa bàn tiếp tục được mở rộng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 4.785,02 tỷ đồng, tăng 16,75% so với cùng kỳ năm trước. 

Nhìn chung, những tháng đầu năm 2026, tình hình vận tải diễn ra sôi động với sự tăng trưởng ở cả vận tải hành khách, hàng hóa, kho bãi và chuyển phát do nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và nhu cầu tăng cao. Vận tải đường bộ vẫn chiếm ưu thế, trong khi các ngành vận tải khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm trước. Chất lượng phương tiện vận chuyển hành khách và hàng hóa không ngừng được cải thiện, nhiều xe mới, chất lượng cao được đưa vào khai thác. Dịch vụ vận tải được nâng cao rõ rệt, số lượng phương tiện vận chuyển ổn định, giá cước vận tải hợp lý, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

6. Tài chính, ngân hàng

6.1. Hoạt động tài chính

Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 6 tháng đầu năm 2026 có nhiều thuận lợi hơn; hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ, thị trường bất động sản ổn định, tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh. Chi ngân sách Nhà nước cơ bản đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục hồi nền kinh tế.

Thu ngân sách nhà nước tính đến ngày 28/6/2026 đạt 12.017,26 tỷ đồng (tăng 5,77% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 7.308,68 tỷ đồng (chiếm 60,82% trong tổng thu) giảm 5,30% so với cùng kỳ. Một số thuế thu đạt thấp như: Các khoản thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 379,75 tỷ đồng, giảm 74,49%; thu khác ngân sách đạt 179,31 tỷ đồng, giảm 28,84% so với cùng kỳ năm 2025.

Tuy nhiên, ngoài các sắc thuế có số thu đạt thấp, 6 tháng đầu năm 2026 thu từ doanh nghiệp nhà nước đạt 714,61 tỷ đồng tăng 34,41% so với cùng kỳ năm trước; thu từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 1.414,19 tỷ đồng, tăng 47,02%; tổng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.421,81 tỷ đồng tăng 23,95% so với cùng kỳ năm 2025.

Chi ngân sách nhà nước cơ bản đáp ứng các nhiệm vụ đã bố trí trong dự toán và các nhiệm vụ đột xuất quan trọng về phát triển KT-XH, QP-AN của địa phương. Tổng chi ngân sách nhà nước tính đến ngày 28/6/2026 đạt 14.060,49 tỷ đồng giảm 23,86% so với cùng kỳ. Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển đạt 5.966,91 tỷ đồng chiếm 42,44% tổng chi, giảm 31,50% so với cùng kỳ; chi thường xuyên đạt 8.093,55 tỷ đồng chiếm 57,56% tổng chi, giảm 16,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản chi tác động lớn vào tăng trưởng kinh tế như: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo dạy nghề đạt 2.828,33 tỷ đồng giảm 1,48%; chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể đạt 1.526,25 tỷ đồng giảm 45,52% so với cùng kỳ năm 2025.

6.2. Hoạt động ngân hàng

Ngành Ngân hàng Hà Tĩnh đã thực sự nỗ lực trong việc đảm bảo cung ứng vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế. Công tác huy động vốn được các tổ chức tín dụng trên địa bàn đẩy mạnh ngay từ đầu năm. Với việc triển khai nhiều chính sách hiệu quả, nguồn vốn huy động trên địa bàn có sự tăng trưởng tốt.

Tổng nguồn vốn huy động dự ước đến 30/6/2026 đạt 133.000 tỷ đồng, tăng 5,35% so với cuối năm 2025. Trong đó, nguồn vốn huy động trung, dài hạn đạt 12.890 tỷ đồng, chiếm 9,69% tổng nguồn vốn huy động, tăng 1,64%; nguồn vốn huy động ngắn hạn đạt 120.110 tỷ đồng, chiếm 90,31%, tăng 5,76% so với cuối năm 2025.

Dư nợ cho vay dự ước đến 30/6/2026 đạt 137.850 tỷ đồng, tăng 8,77% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 106.600 tỷ đồng (chiếm 77,33 % tổng dư nợ), tăng 8,85%; dư nợ trung dài hạn đạt 31.250 tỷ đồng (chiếm 22,67% tổng dư nợ), tăng 8,50% so với cuối năm 2025. 

Công tác huy động vốn, tín dụng được tập trung chỉ đạo. Các tổ chức tín dụng công bố lãi suất cho vay, các chương trình lãi suất ưu đãi, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp nắm bắt thông tin, tiếp cận tín dụng.

7. Đầu tư và xây dựng

Giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục được tập trung chỉ đạo, Ngày 26/5/2026, HĐND tỉnh Hà Tĩnh đã ra Nghị quyết số 24/NĐ-HĐND về việc giao bổ sung kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 từ nguồn tăng thu, dự toán chi còn lại của ngân sách cấp tỉnh năm 2025, trong đó bổ sung nguồn vốn gần 2.900 tỉ đồng vào kế hoạch đầu tư công trong năm 2026 trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ, Hà Tĩnh tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; quyết liệt triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư công và đầu tư ngoài ngân sách. Đồng thời, tỉnh tập trung hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm công nghiệp như VSIP, Vinhomes Vũng Áng, cụm công nghiệp Gia Lách (mở rộng); đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, cải cách thủ tục hành chính, xử lý các tồn đọng để tạo điều kiện triển khai nhiều dự án trọng điểm như Nhà máy xe máy điện VinFast, các khu đô thị Mipec Thạch Trung, Kỳ Trinh, Nam Cầu Phủ, các dự án tái định cư và mở rộng hệ thống đường bộ...

Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý II/2026 ước đạt 17.886,70 tỷ đồng tăng 37,10% so với quý trước và tăng 20,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 2.777,36 tỷ đồng, tăng 69,22% so với quý trước và giảm 25,61% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn vốn khối Nhà nước tăng mạnh so quý trước nhờ công tác giải phóng mặt bằng của các dự án lớn như đường Xô Viết Nghệ Tĩnh kéo dài về phía đông, đường sắt cao tốc, hạ tầng tái định cư được triển khai với khối lượng lớn.

Vốn ngoài nhà nước ước đạt 13.123,61 tỷ đồng, tăng 41,23% so với quý trước và tăng 53,62% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết quý 2 thuận lợi hơn, tác động đến nguồn vốn đầu tư của hộ dân cư tăng trong bối cảnh nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà ở gia đình đang ở mức cao.

Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 1.985,73 tỷ đồng, giảm 6% so với quý trước và giảm 23,17% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực này nguồn vốn đầu tư giảm do hiện tại không có dự án lớn nào triển khai, chỉ còn một số hạng mục bổ sung, sửa chữa máy móc tại các dự án lớn cũ đã đi vào hoạt động.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 30.932,91 tỷ đồng, tăng 13,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn nhà nước trên địa bàn ước đạt 4.418,58 tỷ đồng, giảm 32,43% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do trên địa bàn tỉnh giai đoạn này cũng không có các dự án lớn do Nhà nước triển khai (cùng kỳ năm trước vẫn còn một số hạng mục của dự án đường bộ cao tốc Bắc-Nam thực hiện); vốn ngoài nhà nước ước đạt 22.416,09 tỷ đồng, tăng 48,16% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao so cùng kỳ chủ yếu do các khu đô thị, hạ tầng các khu công nghiệp và nhóm các công trình thuộc tập đoàn Vingroup như Khu công nghiệp Vinhomes, nhà máy xe máy điện Vinfast thực hiện với khối lượng lớn; vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt 4.098,24 tỷ đồng, giảm 27,49% so với cùng kỳ năm trước. Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh không có dự án lớn nào của khối FDI được triển khai đầu tư mới, khối lượng vốn đầu tư chủ yếu tập trung ở công tác sửa chữa, phục hồi, hoàn thiện tại Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II, hạ tầng KCN VSIP và một số dự án quy mô nhỏ khác.

Thời gian qua, hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh gặp một số khó khăn do tình hình thế giới diễn biến phức tạp làm giá nhiên liệu, vật liệu xây dựng, chi phí vận hành máy móc và nhân công tăng cao. Một số dự án phải điều chỉnh, bổ sung dự toán, ảnh hưởng đến tiến độ thi công; việc tuyển dụng lao động kỹ thuật tay nghề cao vẫn còn khó khăn. Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương và tỉnh, cùng sự vào cuộc của các cấp, các ngành trong đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, thu hút đầu tư, tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, nguồn vật liệu xây dựng và ổn định thị trường lao động, nguyên vật liệu, vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn vẫn duy trì tăng trưởng tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.

8. Xuất nhập khẩu hàng hóa

Tình hình xuất, nhập khẩu trong tháng Sáu và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục có nhiều khởi sắc và duy trì đà tăng trưởng ổn định. Tổng trị giá xuất - nhập khẩu tháng 6 ước đạt 450,2 triệu USD, tăng 6,04% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng trị giá xuất - nhập khẩu toàn tỉnh ước đạt 2.530 triệu USD, tăng 7,35% so với cùng kỳ năm trước.

Về xuất khẩu: Trị giá xuất khẩu tháng Sáu ước đạt 162,5 triệu USD, tăng 6,87% so với tháng trước và tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục tăng khá so với tháng trước như dăm gỗ tăng 50,0%, hàng dệt may tăng 19,05%, thép, phôi thép tăng 10,51%, góp phần duy trì tăng trưởng xuất khẩu. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu đạt 830 triệu USD (tương đương 37,7% kế hoạch năm), tăng 3,09% so với cùng kỳ năm trước . Đây là kết quả tích cực trong bối cảnh hoạt động thương mại quốc tế còn nhiều biến động, tạo nền tảng để tỉnh tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu, phấn đấu hoàn thành mục tiêu 2,2 tỷ USD trong năm 2026.

Về nhập khẩu: Trị giá nhập khẩu trong tháng Sáu ước đạt 287,70 triệu USD, tăng 5,57% so với tháng trước và tăng 1,02% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, trị giá nhập khẩu đạt 1.700 triệu USD, tăng 9,56% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh nhu cầu nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu và máy móc phục vụ sản xuất tiếp tục duy trì ở mức cao. Trong đó, nhập khẩu từ Formosa đạt 1.050,00 triệu USD, giảm 8,31% so với cùng kỳ năm trước, song vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh.

Nhìn chung, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì tăng trưởng tích cực, phản ánh sự ổn định của hoạt động sản xuất và thương mại trên địa bàn tỉnh. Hoạt động xuất khẩu tăng chủ yếu nhờ các mặt hàng chủ lực như dăm gỗ, xơ sợi, dệt may và thép, trong khi nhập khẩu tăng do nhu cầu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất. Mặc dù nhập khẩu từ Formosa giảm so với cùng kỳ nhưng tổng trị giá nhập khẩu toàn tỉnh vẫn duy trì mức tăng khá. Kết quả này tạo nền tảng thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những tháng tiếp theo.

9. Giá cả, lạm phát

Trong tháng giá xăng, dầu giảm theo giá thế giới, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở, giá lương thưc, thực phẩm…giảm là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Hà Tĩnh tháng 6/2026 giảm 0,88% so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước chỉ số CPI vẫn tăng tăng 4,64%. Tính chung 6 tháng năm 2026, CPI tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, CPI tháng 6/2026 giảm 0,88%. (trong đó khu vực thành thị  Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 03 nhóm hàng hóa tăng giá, có 07 nhóm hàng hóa giảm giá và có 01 nhóm hàng hóa ổn định không tăng giảm . Sự biến động giá cả thị trường tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trong tháng chủ yếu do Nhóm lương thực, đặc biệt là gạo, rau tươi, khô và chế biến giá giảm do tháng 6 là thời điểm ngay sau vụ thu hoạch đông xuân, nguồn cung trong nước tăng. Ngược lại, nhóm thịt gia súc, gia cầm lại tăng nhẹ so với tháng trước do chi phí sản xuất đầu vào tăng và nhu cầu tiêu dùng cải thiện, nhất là trong bối cảnh nhu cầu thực phẩm tươi sống phục hồi. Bên cạnh đó, do trong tháng nắng nóng nên nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng đồ uống, giải khát, điện, nước các loại tăng nên giá tăng. Giá chất đốt, nhiên liệu xăng, dầu giảm theo xu hướng giảm giá thị trường thế giới. Nhưng nhìn chung mức tăng giá CPI trong tháng vẫn ở mức 4,64% so với cùng tháng năm trước, trong đó mức tăng ở khu vực thành thị là 5,41% trong khi ở khu vực nông thôn là 4,34%.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 CPI bình quân tăng 4,06% so với cùng kỳ năm 2025. Cả 11 nhóm hàng hóa chính đều tăng giá so với cùng kỳ, trong đó, tác động lớn nhất là chỉ số giá nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 4,76% , tiếp theo là nhóm giao thông tăng 3,67% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng mạnh, tác động trực tiếp đến mặt bằng giá chung của nhóm. Ngoài ra, các nhóm hàng có biến động tăng mạnh như may mặc, mũ nón và giày dép (tăng 12,87%) và nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng (tăng 6,68%) cung kéo theo chỉ số CPI chung bình quân tăng.

Xét theo từng quý trong 6 tháng đầu năm 2026, mặt bằng giá cả có xu hướng tăng rõ rệt trong quý II. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) quý II tăng 1,65% so với quý I; đồng thời mức tăng so với cùng kỳ năm trước đạt 5,21%, cao hơn đáng kể so với mức tăng 2,93% của quý I. Diễn biến này cho thấy áp lực tăng giá trong quý II lớn hơn, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong mùa hè cùng với biến động giá của một số nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu.

Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2026, thị trường hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh duy trì ổn định, nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân. Tuy nhiên, giá cả một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có mức biến động đáng kể do tác động của thị trường trong nước và quốc tế. Dự kiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2026 tiếp tục tăng nhẹ so với tháng trước. Áp lực tăng giá chủ yếu đến từ nhu cầu tiêu dùng, du lịch và dịch vụ ăn uống trong cao điểm mùa hè; cùng với biến động giá một số mặt hàng thực phẩm, nhiên liệu và vật liệu xây dựng theo diễn biến thị trường.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm

Quý II và 6 tháng đầu năm 2026, thị trường lao động Hà Tĩnh tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Việc làm và thu nhập của người lao động được cải thiện; nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp duy trì ở mức cao nhờ hoạt động mở rộng sản xuất tại các khu kinh tế, khu công nghiệp và các doanh nghiệp, đặc biệt trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

1.1. Giải quyết việc làm

Theo số liệu của Sở Nội vụ, trong quý II năm 2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho 7.887 người, tăng 68,56% so với quý trước nhưng giảm 44,64% so với cùng kỳ năm 2025. Mặc dù số lao động được giải quyết việc làm giảm so với cùng kỳ song cơ cấu việc làm đã chuyển dịch theo hướng tích cực khi lao động có việc làm trong tỉnh chiếm 50,29% tổng số lao động được giải quyết việc làm, thay vì chủ yếu thông qua xuất khẩu lao động và làm việc ngoài tỉnh như trước đây. Điều này cho thấy khả năng tạo việc làm tại địa phương tiếp tục được cải thiện, góp phần nâng cao tính ổn định của thị trường lao động trên địa bàn tỉnh. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 đã giải quyết việc làm và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho 12.566 người, giảm 37,08% so với cùng kỳ năm 2025.

1.2. Lực lượng lao động

Theo kết quả Điều tra lao động, việc làm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Hà Tĩnh trong quý II/2026 ước đạt 551.541 người, tăng 1,85% so với quý trước và tăng 2,21% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, lao động nam chiếm 52,13% tổng lực lượng lao động, cao hơn 4,26 điểm phần trăm so với lao động nữ (47,87%). Xét theo khu vực cư trú, lực lượng lao động vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với tỷ trọng 75,43%, trong khi khu vực thành thị chỉ chiếm 24,57%, phản ánh đặc điểm cơ cấu dân cư và lao động của tỉnh. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số từ 15 tuổi trở lên trong quý II đạt 55,92%, tăng 1,02 điểm phần trăm so với quý I và tăng 0,88 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy nguồn cung lao động tiếp tục được cải thiện.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước đạt 546.532 người, tăng 2,70% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, lao động nam đạt 284.993 người, chiếm 52,15% tổng lực lượng lao động; lao động khu vực thành thị đạt 134.513 người, chiếm 24,61%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động bình quân đạt 55,41%, tăng 1,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, phản ánh xu hướng gia tăng mức độ tham gia của người dân vào thị trường lao động. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm dân cư vẫn còn khá rõ nét. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam cao hơn nữ 9,17 điểm phần trăm; đồng thời, tỷ lệ tham gia của dân số khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn 8,65 điểm phần trăm.

1.3. Lao động có việc làm 

Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở Hà Tĩnh ước tính quý II năm 2026 là 539.035 người, chiếm 97,73% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên; tăng 0,05 điểm phần trăm so với quý I và tăng 1,16 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Trong tổng số, lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 131.424 người, chiếm 24,38% trong tổng số; lao động có việc làm ở nam giới là 279.568 người, chiếm 51,86% trong tổng số. Số lao động có việc làm tiếp tục tăng trong bối cảnh hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh phục hồi tích cực, đặc biệt là khu vực công nghiệp. Cùng với đó, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp duy trì xu hướng tăng đã góp phần mở rộng cơ hội việc làm của nền kinh tế địa phương.

Tính chung 6 tháng năm 2026, lao động có việc làm đạt 534.010 người, chiếm 97,71% tổng số lực lượng lao động, giảm 0,56 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Trong tổng số, lao động có việc làm ở thành thị là 129.516 người, chiếm 24,25%; ở nam giới là 276.313 người, chiếm 51,74%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh: Lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 28,14% tổng số lao động có việc làm, tăng 0,89 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (tăng 9.378 người). Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,71%, giảm 0,92 điểm phần trăm về tỷ trọng nhưng số lao động vẫn tăng 310 người, cho thấy quy mô việc làm tiếp tục được mở rộng trong bối cảnh tổng số lao động có việc làm tăng. Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 42,15%, tăng nhẹ 0,03 điểm phần trăm, tương ứng tăng 7.374 lao động. 

1.4. Tình hình thất nghiệp, thiếu việc làm 

Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động ở Hà Tĩnh, ước tính quý II/2026 là 2,11%, giảm 0,21 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, tỷ lệ này ở mức 2,21%, tăng 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Lao động không có việc làm (thất nghiệp) ước tính quý II/2026 là 12.506 người, chiếm 2,27% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên, giảm 0,05 điểm phần trăm so quý trước và giảm 1,16 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; có đến 67,08% lao động thất nghiệp cư trú ở nông thôn và tỷ lệ nam giới chiếm đến 63,41%. Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp quý II/2026 ước tính là 3,88%, tăng 0,22 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 6 tháng năm 2026, số người thất nghiệp ước tính là 12.522 người, chiếm 2,29% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên và giảm 0,56 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; lao động thất nghiệp chủ yếu là ở khu vực nông thôn chiếm đến 60,09% (tương đương 7.525 người) và ở nam giới là 69,32% (8.680 người). Xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,99%, tăng 0,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình nhận trợ cấp thất nghiệp: Đã giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm góp phần tích cực hỗ trợ người lao động trong thời gian mất việc, giúp họ ổn định cuộc sống. Số người được hưởng trợ cấp thất nghiệp phát sinh mới trong quý II/2026 là 1.920 người; tính đến tháng 6 năm 2026 là 2.607 người.

2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội

Nhìn chung, đời sống dân cư trên địa bàn Hà Tĩnh trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ổn định, từng bước được cải thiện cùng với đà phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế. Thực hiện chủ trương của Trung ương về tiếp tục sắp xếp đơn vị hành chính và tinh gọn tổ chức bộ máy ở cơ sở, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 1508/QĐ-UBND phê duyệt “Phương án tổng thể sắp xếp thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”. sau khi hoàn thành, toàn tỉnh còn 827 thôn, tổ dân phố, giảm 1.074 đơn vị so với trước khi sắp xếp, tương ứng giảm 56,50%. Việc sắp xếp góp phần tinh gọn bộ máy ở cơ sở, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

2.1. Công tác đảm bảo an sinh xã hội

Công tác an sinh xã hội tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục được quan tâm thực hiện, các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo và hộ cận nghèo được chi trả đầy đủ, kịp thời cụ thể:

Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Quý II/2026, Hà Tĩnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền là 352,152 tỷ đồng so với quý trước giảm 31,893 tỷ đồng (giảm 8,3%) và so với cùng kỳ năm trước giảm 114,97 tỷ đồng (giảm 24,61%). Chủ yếu do nguồn hỗ trợ đột xuất trong quý II giảm 99,54% so với quý trước và giảm 99,38% so với cùng kỳ năm trước do năm nay không phải năm kỷ niệm trọng điểm nên không phát sinh các khoản chi đột xuất quy mô lớn như năm trước. Tính chung 6 tháng đã chi trả tổng số tiền là 736,197 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước tăng 8,968 tỷ đồng (tăng 1,23%). 

Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Quý II năm 2026, Hà Tĩnh đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất với tổng số tiền là 181,365 tỷ đồng, toàn bộ số tiền này là nguồn trợ cấp, phụ cấp hàng tháng, không có nguồn hỗ trợ đột xuất. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026 đã chi trả với tổng số tiền là 364,79 tỷ đồng. Hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không trùng với các đối tượng tại Nghị định 20/2021/NĐ-CP: Quý II năm 2026, đã chi trả trợ cấp hàng tháng và hỗ trợ đột xuất số tiền là 18,41 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng toàn tỉnh đã chi trả tổng số tiền là 100,81 tỷ đồng.

Tình hình cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế tại địa phương: Tính chúng 6 tháng đầu năm 2026, Hà Tĩnh đã cấp phát miễn phí khoảng 401.067 thẻ bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí. Trong đó, cấp 10.163 thẻ bảo hiểm cho hộ nghèo; 23.373 thẻ cho hộ cận nghèo; 131.746 thẻ cho trẻ em dưới 6 tuổi; 40.708 thẻ cho người có công và 195.077 thẻ cho các đối tượng khác. Thẻ bảo hiểm quý II tăng 13.443 thẻ so với quý I chủ yếu là do tăng các loại thẻ khác. 

Tình hình hỗ trợ gạo tại địa phương trong 6 tháng đầu năm 2026, theo Quyết định số 340/QĐ-UBND ngày 30/01/2026 của UBND tỉnh, các địa phương đã cấp phát 1.171 tấn gạo, trong đó: hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ 604 tấn; hỗ trợ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 243,56 tấn; hỗ trợ nhân dân trong thời kỳ giáp hạt đầu năm 2026 là 323,52 tấn. Hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường, nổi bật khác phát sinh tại địa phương: Trong quý II không phát sinh hỗ trợ tình hình đột biến, bất thường nhưng tính chung 6 tháng đầu năm 2026 Hà Tĩnh đã chi nguồn hỗ trợ từ Ban vận động cứu trợ Trung ương cho các đối tượng có nhà ở bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ xảy ra năm trước với tổng số tiền 58,582 tỷ đồng.

3. Giáo dục đào tạo

Trong quý II năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh đã tổ chức thành công 2 kỳ thì quan trọng của năm học 2026-2027. Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT đã có hơn 21 nghìn thí sinh đăng ký dự thi; công tác tổ chức thi, chấm thi và xét tuyển được thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế. Theo kết quả tuyển sinh, mặt bằng điểm chuẩn năm nay có xu hướng tăng tại nhiều trường THPT công lập. Trường THPT Phan Đình Phùng tiếp tục có điểm chuẩn cao nhất toàn tỉnh với 24,75 điểm; tiếp đến là THPT Kỳ Anh và THPT Nghèn cùng đạt 21,25 điểm. 

Kỳ thi tốt nghiệp THPT có gần 18.600 thí sinh đăng ký dự thi. Ngành giáo dục đã phối hợp với các địa phương và đơn vị liên quan chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực, an ninh, an toàn và hỗ trợ thí sinh tham gia kỳ thi.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Nhìn chung, công tác giám sát, phòng chống dịch bệnh trên địa bàn Hà Tĩnh 6 tháng năm 2026 tiếp tục được triển khai đồng bộ, góp phần kiểm soát hiệu quả các bệnh truyền nhiễm, không ghi nhận trường hợp tử vong do các bệnh thuộc diện giám sát. Tuy nhiên, một số bệnh có xu hướng gia tăng trong quý do là các tháng mùa hè, điều kiện thời tiết nắng nóng, mưa nhiều xen kẽ tạo môi trường thuận lợi cho mầm bệnh phát triển.

Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạn chế lây nhiễm HIV/AIDS, toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh truyền thông và dự phòng, cung cấp các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS toàn diện, đặc biệt hướng tới nhóm thanh niên, các ca nhiễm HIV tiếp tục có xu hướng giảm. Trong quý II/2026, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện 3 ca nhiễm mới HIV, không có ca nào chết do AIDS. Tính chung 6 tháng phát hiện 6 ca nhiễm mới HIV/AIDS, không có ca nào chết vì AIDS giảm 4 ca nhiễm mới, giảm 5 ca chết vì AIDS so với cùng kỳ năm trước.

Công tác an toàn thực phẩm: Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường thông qua việc đẩy mạnh tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống. Toàn tỉnh không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào, giảm 1 vụ và 4 ca ngộ độc tập thể so với cùng kỳ. Tuy nhiên vẫn ghi nhận 780 ca ngộ độc đơn lẻ (tăng 422 ca ngộ độc đơn lẻ so với dùng kỳ) diễn biến các ca ngộ độc tăng dần trong các tháng mùa hè, trong đó tháng 6 có số người mắc cao nhất với 188 người. Các trường hợp ngộ độc đều được ngành y tế tiếp nhận, điều trị và xử lý kịp thời, không có trường hợp tử vong do ngộ độc thực phẩm.

Tình hình dịch bệnh khác: Trong quý II/2026 một số bệnh có xu hướng gia tăng so với quý I như sốt xuất huyết Dengue, tay - chân - miệng, quai bị, bệnh do vi rút Adeno và tiêu chảy do điều kiện thời tiết nắng nóng, mưa nhiều tạo thuận lợi cho mầm bệnh phát triển . Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, các bệnh truyền nhiễm chủ yếu ghi nhận số mắc cao gồm cúm (4.173 ca), tiêu chảy (407 ca), quai bị (338 ca), bệnh do vi rút Adeno (230 ca), sốt xuất huyết Dengue (143 ca), thủy đậu (127 ca), viêm gan vi rút khác (120 ca) và tay - chân - miệng (93 ca); các bệnh khác chỉ ghi nhận số mắc rải rác. Nhờ tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các ca bệnh, không để xảy ra ổ dịch lớn.

5. Hoạt động văn hóa - thể thao

Hoạt động văn hóa: Trong quý II năm 2026, nhiều hoạt động văn hóa, du lịch quy mô lớn được tổ chức trên địa bàn tỉnh. Nổi bật là lễ khai trương du lịch biển Hà Tĩnh năm 2026 với chủ đề "Hà Tĩnh - Âm vang biển Thiên Cầm" diễn ra tại Khu du lịch Thiên Cầm vào ngày 25/4; đồng thời các địa phương ven biển như Thiên Cầm, Xuân Thành, Kỳ Xuân, Hải Ninh và Thạch Khê đồng loạt tổ chức khai hội du lịch biển với nhiều chương trình nghệ thuật, thể thao và trò chơi dân gian phục vụ Nhân dân, du khách. Bên cạnh đó, tỉnh phát động cuộc thi “Ảnh đẹp và video clip ấn tượng về du lịch Hà Tĩnh” năm 2026. Các hoạt động góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân và quảng bá hình ảnh Hà Tĩnh đến du khách trong và ngoài tỉnh.

Hoạt động thể dục, thể thao: Hoạt động thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi. Nổi bật là Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Hà Tĩnh lần thứ X năm 2026 được tổ chức thành công với sự tham gia của hơn 2.500 vận động viên, tranh tài ở 77 bộ huy chương. Đây là sự kiện thể thao lớn nhất của tỉnh trong năm, góp phần đánh giá phong trào thể dục thể thao quần chúng và tuyển chọn vận động viên xuất sắc chuẩn bị tham gia Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Bên cạnh đó, các giải thể thao cấp tỉnh, cấp cơ sở tiếp tục được duy trì, thu hút đông đảo cán bộ, Nhân dân tham gia, góp phần nâng cao sức khỏe và đời sống tinh thần của người dân.

Đối với thể thao thành tích cao trong 6 tháng đầu năm 2026 đoàn thể thao Hà Tĩnh tham gia thi đấu 13 giải quốc gia, quốc tế giành 110 huy chương (39 HCV -32 HCB - 39 HCĐ). Đối với thể thao chuyên nghiệp Hà Tĩnh đã phối hợp với Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam tổ chức thành công trận đấu Play-off trên sân vận động Hà Tĩnh.

6. Tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương

Tai nạn giao thông: Quý II/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 102 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 65 người chết và 71 người bị thương; so với quý trước tăng 5 vụ, tăng 8 người chết nhưng giảm 9 người bị thương. Tai nạn giao thông đường sắt không xảy ra, tương đương quý trước. Số vụ tai nạn và số người tử vong tăng cho thấy tình hình trật tự, an toàn giao thông vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro, nhất là khi nhu cầu đi lại và vận tải hàng hóa gia tăng trong mùa hè. Tuy nhiên, số người bị thương giảm cho thấy công tác cứu hộ, cứu nạn và xử lý sau tai nạn tiếp tục được cải thiện.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 199 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 122 người chết và 151 người bị thương, tăng 21 vụ, tăng 1 người chết và tăng 60 người bị thương so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù số người tử vong chỉ tăng nhẹ, số vụ tai nạn và số người bị thương tăng khá cao cho thấy tình hình tai nạn giao thông vẫn diễn biến phức tạp, đòi hỏi các cấp, các ngành tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành của người tham gia giao thông nhằm kiềm chế và kéo giảm tai nạn trong thời gian tới.

Cháy, nổ: Trong quý II năm 2026, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 24 vụ cháy, tăng 10 vụ so với quý trước; không có thiệt hại về người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 3.858,66 triệu đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 38 vụ cháy, không có người chết, giá trị thiệt hại ước tính 6.905,48 triệu đồng; ngoài ra xảy ra 01 vụ nổ làm 01 người bị thương. Số vụ cháy tăng trong quý II chủ yếu do thời tiết nắng nóng kéo dài, làm gia tăng nguy cơ cháy tại khu dân cư, cơ sở sản xuất và khu vực rừng. Tuy nhiên, công tác phát hiện, xử lý và chữa cháy được triển khai kịp thời nên không xảy ra thiệt hại về người.

Ngoài ra, trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 13 vụ đuối nước làm 18 người tử vong, trong đó có 11 trẻ em dưới 16 tuổi, 4 học sinh trên 16 tuổi và 3 người lớn. Mặc dù các cấp, các ngành đã tăng cường tuyên truyền và triển khai nhiều biện pháp phòng ngừa, tình trạng đuối nước vẫn diễn biến đáng lo ngại, đặc biệt trong thời gian nghỉ hè và những tháng nắng nóng. Trước thực trạng đó, nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh đã tích cực chung tay triển khai các hoạt động phòng, chống đuối nước, như tổ chức các lớp dạy bơi miễn phí, hướng dẫn kỹ năng bơi an toàn và kỹ năng phòng tránh tai nạn dưới nước cho trẻ em. Đây là những hoạt động thiết thực, có ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng và trang bị kỹ năng cần thiết cho trẻ em, đồng thời là mô hình cần tiếp tục được duy trì và nhân rộng trong thời gian tới.

7. Tình hình vi phạm môi trường và thiên tai

Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng 6 năm 2026, trên địa bàn tỉnh phát hiện 6 vụ vi phạm môi trường, giảm 40,00% so với tháng trước và giảm 40% so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng đã xử lý 6 vụ vi phạm, số tiền xử phạt vi phạm hành chính đạt 46,50 triệu đồng, tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Số vụ vi phạm giảm cho thấy công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường, cùng với việc tăng cường thanh tra, kiểm tra và triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 202 vụ vi phạm môi trường, tăng 42 vụ (26,25%) so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, số vụ đã xử lý là 107 vụ, giảm 21,9%; tổng số tiền xử phạt đạt 679,23 triệu đồng, giảm 54,47% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy các cơ quan chức năng đã tập trung xử lý các vụ việc theo đúng quy định, đồng thời đẩy mạnh công tác phòng ngừa thông qua tuyên truyền, hướng dẫn và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy vậy, số vụ vi phạm vẫn có xu hướng tăng so với cùng kỳ, cho thấy công tác quản lý, giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường cần tiếp tục được tăng cường trong thời gian tới. 

Về tình hình thiên tai trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh có xảy ra mưa đá kèm dông lốc, sấm sét và gió kèm đợt mưa lớn tuy nhiên không gây thiệt hại lớn về người và tài sản.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI

Trong thời gian tới, tình hình thế giới dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước, nền kinh tế vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi hoạt động sản xuất, kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp phục hồi chưa đồng đều, thiên tai, dịch bệnh còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đối với Hà Tĩnh, mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10% trở lên trong năm 2026 đặt ra yêu cầu rất cao và khối lượng công việc của năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030 là rất lớn. Vì vậy, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt, triển khai đồng bộ, hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10% trở lên; thực hiện hiệu quả việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và hoàn thiện cơ chế vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp;

Hai là, đẩy nhanh triển khai Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; quy hoạch đô thị Hà Tĩnh, đô thị Nghi Xuân và các quy hoạch chung xã. Chủ động phối hợp hoàn thiện Đề án mở rộng KKT Vũng Áng, điều chỉnh Quy hoạch chung KKT Vũng Áng, Đề án Khu thương mại tự do Vũng Áng, Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Hà Tĩnh và triển khai Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung KKT Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đến năm 2045;

Ba là, đẩy mạnh thu hút đầu tư có trọng tâm, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã phát triển sản xuất; tháo gỡ khó khăn cho các dự án trọng điểm, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng Khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng, dự án Nhà xưởng cho thuê sản xuất ngành phụ trợ ô tô điện và các dự án công nghiệp trong khu kinh tế, khu công nghiệp. Phối hợp với PVN triển khai Đề án Trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái tại Khu kinh tế Vũng Áng và nghiên cứu Trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo quốc tế tại Khu kinh tế Vũng Áng và thực hiện các thủ tục đối với dự án mỏ sắt Thạch Khê theo quy định;

Bốn là, tập trung sản xuất vụ Hè Thu năm 2026; đẩy nhanh việc tập trung, tích tụ ruộng đất theo Nghị quyết số 06-NQ/TU; nhân rộng mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và triển khai Dự án Tổ hợp kinh tế nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn sinh thái 4F; tăng cường phòng chống dịch bệnh và xây dựng nông thôn mới bền vững;

Năm là, triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thu ngân sách, phấn đấu hoàn thành và vượt dự toán; tăng cường chống thất thu, trốn thuế, gian lận thuế, thu hồi nợ đọng; xác định đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị.

Sáu là, tăng cường ứng dụng thương mại điện tử, hỗ trợ các doanh nghiệp và hợp tác xã quảng bá, giới thiệu, và xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng; tăng cường quản lý thị trường, kiểm soát giá cả, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả; đẩy mạnh liên kết phát triển tour, tuyến du lịch, nâng cao chất lượng trải nghiệm và thời gian lưu trú của du khách.

Trên đây là một số tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh./.

Xem nhiều nhất