Ảnh hưởng của bão số 8, dự báo khu vực Hà Tĩnh có mưa to và dông   |    Ấn Độ bồi thường 670 USD cho mỗi ca tử vong do COVID-19   |    Tăng cường tuyên truyền sử dụng vật tư nông nghiệp cho người dân Cẩm Xuyên   |    Về việc lấy ý kiến góp ý của nhân dân về “Lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030 thành phố Hà Tĩnh”   |    Về việc lấy ý kiến góp ý của nhân dân về “Lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030 thị xã Hồng Lĩnh”   |   

Tình hình kinh tế-xã hội quý I năm 2021

  

10:12 19/04/2021

Thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH, QPAN mà Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đề ra; trong quý I vừa qua việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn còn gặp không ít khó khăn, thách thức, diễn biến thời tiết, dịch bệnh đối với các loại cây trồng và vật nuôi luôn tiềm ẩn rủi ro nhất là dịch viêm da nổi cục trên trâu, bò, dịch tạ lợn châu phi..vv bên cạnh đó Dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp trên toàn cầu, nguy cơ lây nhiễm vẫn có thể xảy ra trên địa bàn tỉnh... Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện giúp đỡ của các Bộ ngành Trung ương; sự tập trung, đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở cùng với sự nỗ lực của người dân, doanh nghiệp. Vì vậy tình hình kinh tế - xã hội quý I/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh có bước tăng trưởng khá, các lĩnh vực văn hóa xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Các kết quả cụ thể được thể hiện trên các lĩnh vực sau:

1.Tài chính, ngân hàng


- Thu - chi ngân sách Nhà nước: Kết quả thu ngân sách Nhà nước quý I năm 2021 còn gặp rất nhiều khó khăn.Tuy nhiên số thu này là kết quả của việc quyết liệt chỉ đạo về nhiệm vụ thu NSNN ngay từ đầu năm, tập trung vào các nhóm giải pháp về cải cách thủ tục hành chính; chống buôn lậu, gian lận thương mại; tăng cường kiểm tra sau thông quan; kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Tổng thu ngân sách nhà nước sơ bộ tính đến ngày 15/3/2021 đạt 2.889,3 tỷ đồng (giảm 16,71% so với cùng kỳ). Trong đó, thu nội địa đạt 1.563,24 tỷ đồng (chiếm 54,10 % trong tổng thu) giảm 38,23% so với cùng kỳ. Tuy nhiên thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 1269,02 tỷ đồng (chiếm 43,92% tổng thu) tăng 39,74% so với cùng kỳ, nguyên nhân do đầu năm đến nay, giá thành quặng sắt trên thế giới tăng cao nên Formosa Hà Tĩnh nhập nguyên liệu về nhiều để tránh tình trạng giá cả tiếp tục leo thang.

Mặc dù thu ngân sách gặp khó khăn nhưng việc điều hành và thực hiện dự toán chi ngân sách địa phương cơ bản đảm bảo triển khai kịp thời các nhiệm vụ phát sinh cũng như các nhiệm vụ bổ sung từ nguồn ngân sách Trung ương. Tổng chi ngân sách nhà nước quý I năm 2021 ước đạt 4.514,70 tỷ đồng giảm 9,36% so với cùng kỳ.Trong cơ cấu nguồn chi thì chi đầu tư phát triển chiếm 52,31% tổng chi, giảm 14,64% so với cùng kỳ; chi thường xuyên chiếm 47,66% tổng chi, giảm 3,64% so với cùng kỳ năm 2020.


- Hoạt động ngân hàng: Trong quý 1/2021, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh đã quán triệt và chỉ đạo kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách mới của Nhà nước đến các TCTD trên địa bàn, trong đó tập trung vào các văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của Ngành và UBND tỉnh có liên quan đến hoạt động ngân hàng năm 2021. Tiếp tục chỉ đạo các TCTD ưu tiên nguồn vốn, đẩy mạnh cho vay các phương án, dự án có hiệu quả; thực hiện nghiêm túc cơ chế điều hành về lãi suất, cạnh tranh lành mạnh; thực hiện các giải pháp hỗ trợ khách hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn, tháo gỡ khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tính đến ngày 31/3/2021 nguồn vốn huy động ước đạt 74.971 tỷ đồng, tăng 7,08% so với cuối năm 2020, xu hướng tăng phù hợp với quy luật tự nhiên do nguồn tiền gửi dồi dào sau dịp Tết Nguyên Đán của các tổ chức, cá nhân; dư nợ cho vay ước đạt 62.951 tỷ đồng tăng 4,48% so với đầu năm, trong đó dư nợ trung dài hạn đạt 24.150 tỷ đồng chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng dư nợ (chiếm 38,36%) đã tạo điều kiện cho khách hàng ổn định nguồn tài chính để đầu tư kinh doanh, phát triển sản xuất.

Các TCTD trên địa bàn nghiêm túc chấp hành các quy định về điều hành lãi suất của Thống đốc NHNN, không có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, vượt trần. Lãi suất huy động phổ biến ở mức 0,2% - 0,8%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,0%-4,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; mức huy động bình quân 4,5%-7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; 6,6%-7,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Lãi suất cho vay VND ngắn hạn phổ biến 4,5-9%/năm, trung dài hạn phổ biến 9-11%/năm; lãi suất cho vay VND ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến 4,5-5,5%/năm. Công tác quản lý ngoại hối được triển khai thực hiện nghiêm túc trên địa bàn. Các TCTD thực hiện nghiêm túc các quy định về niêm yết tỷ giá. Mặc dù tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra phức tạp nhưng lượng người mua vàng vào ngày vía Thần Tài năm nay vẫn khá nhộn nhịp. Nhiều khách hàng đã chọn hình thức mua vàng online để tránh tình trạng chen lấn cũng như hạn chế tụ tập nơi đông người.

Để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị thiệt hại do dịch Covid-19 thì trên địa bàn tỉnh hiện có 44 khách hàng bị ảnh hưởng (27 doanh nghiệp, 1 HTX và 16 hộ tư nhân, cá thể). Tính đến thời điểm 29/02/2021, tổng dư nợ của 44 khách hàng này là 609.779 triệu đồng. Trong đó, dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ là 7.626 triệu đồng, dư nợ được giảm lãi vay là 34.009 triệu đồng với số tiền lãi đã được giảm là 14 triệu đồng. Từ 23/01/2021 đến 29/02/2021 các TCTD đã cho vay mới nhằm hỗ trợ khách hàng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh với doanh số cho vay 1.655 triệu đồng.

 Bên cạnh kết quả đạt được thì việc thực hiện xử lý nợ xấu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP gặp nhiều khó khăn; chưa tìm ra hướng giải quyết. Nợ xấu toàn địa bàn chiếm 1,12% dư nợ toàn địa bàn, giảm so với cuối năm 2020 (nợ xấu cuối năm 2020 chiếm 1,14% dư nợ toàn địa bàn).

 2. Giá cả, lạm phát


Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2021, giảm 0,52% so với tháng trước, tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị giảm 0,59% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 2,35%; Khu vực nông thôn giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có: 02 nhóm hàng hóa chỉ số giá tăng so với tháng trước: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,21%; Giao thông tăng 1,03%. Có 06 nhóm hàng hóa chỉ số giá giảm so với tháng trước: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,85%; Đồ uống và thuốc lá giảm 0,37%; May mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,01%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,11%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,04%; Hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,92%. Có 03 nhóm không biến động so với tháng trước gồm: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế; Giáo dục; Bưu chính viễn thông. Như vậy, giá nhiên liệu xăng dầu liên tục tăng từ đầu năm đến nay, ảnh hưởng đến chỉ số nhóm giao thông và chi phí trung gian các nhóm hàng hóa khác, tác động vào giá bán lẻ chung trên thị trường hàng hóa. Bên cạnh đó giá vật liệu xây dựng liên tục tăng cao, một phần do chi phí vận chuyển, một phần do ảnh hưởng bởi thị trường thép thế giới tăng giá trong thời gian vừa qua.

Chỉ số CPI bình quân quý I năm 2021 tăng 0,43% so với cùng kỳ. Trong đó, một số nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng so với cùng kỳ: Giáo dục tăng 15,14%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 3,75%; Đồ uống, thuốc lá tăng 2,55%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,97%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,36%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,44%. Nguyên nhân làm cho chỉ số giá bình quân nhóm hàng giáo dục có biến động lớn so với cùng kỳ do các tháng đầu năm dịch Covid-19 được kiểm soát tốt nên học sinh, sinh viên tiếp tục đến trường đã tác động đến giá cả nhóm hàng giáo dục.

Chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 4/2021 dự kiến tăng mạnh so tháng 3/2021. Yếu tố thời tiết thay đổi khiến các loại hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng mua hè như thực phẩm hoa quả, đồ uống, điện, nước sinh hoạt, hàng điện lạnh, dịch vụ bảo dưỡng tăng giá. Bên cạnh đó, dịch bệnh covid-19 trong nước ổn định, giá dịch vụ du lịch lữ hành và cho thuê phòng nghỉ tại các điểm du lịch biển trong tỉnh dự kiến tăng.

 3. Đầu tư và xây dựng

3.1. Đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh quý I ước đạt 5.514,32 tỷ đồng, bằng 74,25% so với quý trước và bằng 100,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn đầu tư nhà nước trên địa bàn thực hiện (chiếm 28,17%) tăng 15,11% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do năm 2021 kế hoạch vốn ngân sách nhà nước tăng mạnh (51,05%), trong đó vốn chương trình mục tiêu quốc gia tăng 4,67 lần so với năm 2020. Tuy nhiên so với quý trước nguồn vốn nhà nước quý này thực hiện giảm 28,94 % do các tháng đầu năm nguồn vốn chưa được giao kịp thời, các công trình mới đang trong quy trình hoàn tất hồ sơ, thủ tục triển khai, ngoài ra cũng là quý trùng với các ngày lễ kéo dài.


 Khu vực ngoài nhà nước, đây là khu vực chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn (chiếm 65,89%), quí I năm 2021 vốn đầu tư khu vực này tăng 14,57% so với cùng kỳ năm trước; giảm 20,95% so với quý trước. Nguyên nhân do quý này các dự án đi vào giai đoạn đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện công trình, lắp đặt máy móc thiết bị để đi vào sản xuất kinh doanh theo kế hoạch đề ra nên vốn khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 49,39% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó năm 2021 dịch Covid-19 được kiểm soát tốt nên xây dựng khu vực hộ dân cư khởi sắc hơn so với cùng kỳ tăng 0,24%.

Khu vực vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 5,91%) giảm mạnh so với quý trước (giảm 49,28%) và cùng kỳ năm trước (giảm 66,09%). Nguyên nhân do một số dự án đang dần hoàn thiện các công trình phụ trợ; bên cạnh đó một số dự án vẫn chưa triển khai do chưa có vật liệu thi công. Tuy nhiên nguồn vốn này chiếm tỷ trọng thấp nên tác động không đáng kể đến tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong quý.

Bên cạnh đó, hiện nay Hà Tĩnh đang tiếp tục thu hút các dự án trong và ngoài nước như: Thành phố giáo dục quốc tế Hà Tĩnh; dự án nhà máy điện gió HBRE Kỳ Anh và nhiệt điện Vũng Áng 2, hiện nay 2 dự án này nhà đầu tư đã chuyển tiền bồi thường GPMB;.... Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh đầu tư các dự án đang được đầu tư trên địa bàn tỉnh như nhà máy bia Hà Nội Nghệ Tĩnh; nhà máy sản xuất chế biến lâm sản An Việt Phát (giai đoạn 2); Khu đô thị TNR Hồng Lĩnh; Khu công nghiệp cổng khánh 1, 2 Hồng Lĩnh.... Đây sẽ là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy hoạt động xây dựng trên địa bàn trong thời gian tới.

 3.2. Xây dựng

Giá trị sản xuất của ngành xây dựng giảm 9,59% so với quý trước và giảm 14,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Hai khu vực chiếm tỉ trọng lớn đó là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (chiếm 41,51%) giảm 15,55% so với quý trước và giảm 18,51% so với cùng kỳ; khu vực hộ dân cư (chiếm 56,51%) tăng 2,57% so với quý trước và tăng 0,25% so với cùng kỳ... Mặc dù nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước tăng 14,57% so với cùng kỳ, tuy nhiên các dự án lớn của khu vực này như: Dự án Cảng số 3 Việt - Lào, Nhà máy bia Hoành Sơn, Nhà máy sản xuất lâm sản An Việt Phát, nhà máy gỗ MDF Thanh Thành Đạt; dự án bệnh viện quốc tế TTH Hà Tĩnh…hiện nay đã đi vào giai đoạn lắp đặt máy móc thiết bị hoàn thiện công trình để đi vào sản xuất kinh doanh theo kế hoạch đề ra nên giá trị sản xuất xây dựng khu vực này giảm. Đối với khu vực hộ dân cư các công trình thực hiện ở khu vực này chủ yếu là công trình sửa chữa và xây mới nhà ở, địa điểm kinh doanh của hộ… các tháng đầu năm thời tiết nắng ấm thuận lợi cho việc thi công; ngoài ra các công trình phụ của hộ được tập trung sửa sang chỉnh trang lại để đạt tiêu chuẩn nông thôn mới nên giá trị xây dựng khu vực này tăng nhẹ. Bên cạnh đó, một số dự án từ nguồn ngân sách nhà nước có kế hoạch vốn lớn như: Các dự án ODA về hệ thống tưới tiêu, khắc phục ngập úng trên địa bàn Hà Tĩnh; Các hạng mục tu bổ đê… hiện nay đang đẩy nhanh quá trình hoàn tất hồ sơ để triển khai sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xây dựng thời gian tới.

4. Tình hình hoạt động doanh nghiệp

4.1. Tình hình đăng ký kinh doanh


 Tính từ đầu năm đến ngày 22/3/2021, toàn tỉnh thành lập mới 233 doanh nghiệp, tăng 13,66% so cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đăng ký đạt 1.032 tỷ đồng, bằng 79,98% so cùng kỳ năm trước, vốn bình quân trên một doanh nghiệp đạt 4,43 tỷ đồng, bằng 70,37% so cùng kỳ năm trước. Hàng năm các doanh nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. 3 tháng đầu năm 2021 đã giải quyết được 1.538 việc làm cho lao động mới, tăng 14,52% so cùng kỳ. Trong đó loại hình công ty TNHH giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất với 976 lao động, chiếm 63,46% trong tổng số, quy mô bình quân 6 lao động/doanh nghiệp; loại hình công ty cổ phần tạo việc làm mới cho 297 lao động, chiếm 19,31% trong tổng số, quy mô 3 lao động/doanh nghiệp.

Bên cạnh số doanh nghiệp thành lập mới thì số doanh nghiệp gặp khó khăn phải chấm dứt hoạt động tính từ đầu năm đến 22/3/2021 là 30 doanh nghiệp, tăng 11,11% và số tạm ngừng là 195 doanh nghiệp, tăng 34,48% so cùng kỳ năm trước.

Những năm qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới luôn tăng so cùng kỳ, số vốn đăng ký và số vốn bình quân/doanh nghiệp cũng tăng khá cao. Tuy nhiên, kể từ khi đại dịch Covid 19 bùng phát từ đầu năm 2020 đến nay hoạt động của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, các chỉ tiêu số doanh nghiệp thành lập mới; số vốn đăng ký; vốn bình quân/doanh nghiệp đều giảm so với giai đoạn trước khi dịch bùng phát. Cùng với đó số doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất phải làm thủ tục giải thể; tạm ngừng hoạt động tăng lên. Vì vậy trong thời gian tới các cấp, các ngành tiếp tục triển khai quyết liệt các chương trình, kế hoạch, đề án để tháogỡ những khó khăn, hỗ trợ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp; phát triển doanh nghiệp khu vực tư nhân, hỗ trợ khởi nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo.

4.2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo

Đánh giá chung về tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2021 so với quý trước, có 27,27% doanh nghiệp đánh giá tính hình sản xuất kinh doanh tốt lên; có 36,36% cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh vẫn giữ ổn định; 36,37% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn so với quý trước tập trung một số ngành như: Chế biến gỗ; sản xuất giấy; Sản xuất sản phẩm từ cao su; SX sản phẩm từ kim loại…

Dự báo xu hướng về tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2021 khả quan hơn so quý I/2021 khi có 82,5% doanh nghiệp cho rằng SXKD quý II sẽ tốt hơn và giữ ổn định so với quý I (trong đó 42,5% số DN dự báo tốt lên và 40% số DN dự báo giữ ổn định), bên cạnh đó chỉ có 17,5% số DN dự báo tình hình sản xuất vẫn tiếp tục gặp khó khăn hơn quý trước. Các ngành dự báo SXKD quý II/2021 tốt hơn và giữ ổn định so quý I/2021 gồm: sản xuất đồ uống 100%; Dệt 100%; Sản xuất trang phục 100%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic 100%; sữa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị 100%.

Trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có 4 yếu tố quan trọng được các doanh nghiệp đánh giá nhiều nhất là: "nhu cầu thị trường trong nước thấp" chiếm 63,6%, "tính cạnh tranh của hàng trong nước cao" chiếm 56,8%, “Khó khăn về tài chính” chiếm 47,7%, “Thiếu nguyên, nhiên vật liệu” chiếm 38,6%.

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

5.1. Trồng trọt

5.1.1 Kết quả chính thức vụ Đông 2020-2021


- Cây ngô: Diện tích ngô vụ Đông 2020-2021 tăng 988 ha so với cùng kỳ. Trong đó, ngô sinh khối đạt 1.167 ha, bằng 115,19% (tăng 154 ha) so với cùng kỳ, chiếm 25,81% tổng diện tích ngô.Nguyên nhân diện tích ngô tăng so với cùng kỳ là do vụ Đông năm 2019 diện tích ngô của huyện Hương Khê gieo trỉa bị hư hỏng không khắc phục được nên diện tích giảm mạnh. Năng suất ngô vụ Đông giảm nhẹ 0,41 tạ/ha nhưng sản lượng ngô vẫn tăng 3.068 tấn so với thực hiện cùng kỳ năm trước. Mặc dù năng suất ngô giảm nhẹ so với cùng kỳ do ảnh hưởng bởi lũ lụt vào trung tuần tháng 10/2020 nhưng do diện tích tăng mạnh nên sản lượng ngô tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

- Cây lấy củ có chất bột: Tổng diện tích đạt 1.469 ha, bằng 99,61% (giảm 6 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là cây khoai lang (đạt 1.444 ha), tương đương với diện tích gieo trồng cùng kỳ năm trước. Năng suất khoai lang tăng 1,02 tạ/ha với sản lượng khoai lang tăng 145 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do sử dụng các giống khoai lang có chất lượng nên năng suất tăng, cùng với diện tích gieo trồng ổn định nên sản lượng khoai lang tăng hơn so với cùng kỳ năm trước.

- Cây lạc: Tổng diện tích đạt 25 ha (huyện nghi Xuân 22 ha và huyện Đức Thọ 3 ha), giảm 2 ha so với cùng kỳ năm trước. Năng suất lạc giảm 1,67 tạ/ha với sản lượng lạc giảm 8 tấn so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết đầu vụ Đông ở Hà Tĩnh thường nhiều mưa, việc gieo trồng lạc gặp khó khăn, người dân ít gieo trỉa mà chủ yếu sản xuất lạc vụ Xuân nên kết quả vụ Đông là không đáng kể.

- Cây rau, đậu, hoa và cây cảnh các loại: Diện tích nhóm rau, đậu, hoa và cây cảnh chính thức đạt 4.705 ha, bằng 95,85% (giảm 204 ha), trong đó: diện tích rau các loại chính thức đạt 4.700 ha, bằng 95,9% (giảm 201 ha). Nguyên nhân diện tích rau giảm là do nhiều diện tích rau ở các huyện đã gieo trỉa trước ngày 15/10/2020 bị ngập lụt gây hư hỏng. Năng suất rau các loại tăng 3,26 tạ/ha với sản lượng rau tăng 353 tấn so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù diện tích rau giảm nhưng do vào thời điểm rau sinh trưởng thời tiết rất thuận lợi nên rau sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao đã làm cho sản lượng rau tăng so với cùng kỳ năm trước.

  5.1.2. Kết quả sản xuất vụ Xuân 2021


Xác định vụ Xuân là vụ sản xuất chính trong năm đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, các trà lúa Xuân đang giai đoạn đẻ nhánh rộ, phát triển mạnh thân lá, các loại cây trồng khác sinh trưởng và phát triển tốt. Kết quả sản xuất vụ Xuân 2021, tổng diện tích gieo cấy lúa ước tính giảm 0,28% (giảm 166 ha) so với cùng kỳ năm trước và tăng 111 ha so với kế hoạch. Trong đó, diện tích lúa gieo thẳng ước đạt 47.789 ha, chiếm 80,8% tổng diện tích lúa; Diện tích ngô ước tính giảm 5,17% (giảm 268 ha) so với cùng kỳ năm trước và tăng 701 ha so với kế hoạch; Diện tích khoai lang ước tính giảm 14,06% (giảm 206 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 374 ha so với kế hoạch; Diện tích lạc ước tính giảm 11,77% (giảm 1.261 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 1.661 ha so với kế hoạch; Diện tích rau các loại ước tính giảm 9,49% (giảm 528 ha) so với cùng kỳ năm trước và giảm 244 ha so với kế hoạch. Như vậy, chỉ có diện tích lúa và ngô là đạt còn các loại cây trồng chủ lực khác vụ Xuân 2021 đều không đạt kế hoạch đặt ra và giảm hơn so với thực hiện cùng kỳ năm trước, trong đó giảm mạnh nhất là diện tích lạc. Bên cạnh nguyên nhân do trời mưa, đất ướt và thời vụ gieo trồng trùng với dịp Tết thì do trồng lạc mất rất nhiều công chăm sóc, đặc biệt là khâu thu hoạch và sau khi trừ chi phí thì thu nhập không còn được bao nhiêu.Vì vậy, nhiều hộ nông dân đã giảm diện tích trồng lạc, chuyển sang trồng ngô.

  5.1.3. Cây lâu năm

Cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh chủ yếu là cây ăn quả, cao su và chè. Diện tích cây lâu năm trên địa bàn Hà Tĩnh có đến cuối năm 2020 là 31.449 ha, trong đó: diện tích cây ăn quả là 18.431 ha, chiếm 58,6% tổng diện tích cây lâu năm; Diện tích cao su là 9.096 ha, chiếm 28,9% tổng diện tích cây lâu năm và diện tích chè là 3.057 ha, chiếm 9,7% tổng diện tích cây lâu năm. Trong những năm qua, diện tích cây ăn quả phát triển mạnh, hiện nay quỹ đất để trồng cây ăn quả dần bị thu hẹp nên diện tích trồng mới cây lâu năm là không nhiều. Hiện nay cây ăn quả trong thời vụ ra hoa kết quả và đang được bà con nông dân tích cực chăm bón nên cây lâu năm phát triển ổn định.

5.1.4. Tình hình dịch bệnh, thiệt hại

Hiện nay, theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Tĩnh, trên cây lúa, bệnh đạo ôn phát sinh gây hại trên các giống Thiên ưu 8, Khang dân 18, BT09, Bắc Hương 9, BH9, ADI168, Thái xuyên 111, tỷ lệ bệnh trung bình 3-5%, nơi cao 10-15%, cục bộ một số diện tích ở Hồng Lĩnh, Cẩm Xuyên tỷ lệ 30%, diện tích 33,25ha, phân bố hầu hết ở các địa phương trong tỉnh; Ốc bươu vàng gây hại ở vùng sâu trũng, ruộng ngập nước ở các địa phương trong tỉnh, mật độ trung bình 1-3con/m2, nơi cao 5-7con/m2, diện tích 62 ha, ốc chủ yếu là trưởng thành, non; Chuột gây hại trên lúa gieo thẳng, tỉ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 23 ha, phân bố ở Thạch hà, Đức Thọ, thị xã Hồng Lĩnh.

Cây lạc, bệnh nấm mốc gốc đen, lở cổ rễ phát sinh gây hại, tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 3-7%, diện tích 4 ha, tại các huyện Thạch Hà, Vũ Quang.

Cây ngô sâu cắn lá, sâu keo mùa thu gây hại với mật độ trung bình 1-3con/m2, nơi cao 3-5con/m2, diện tích 21 ha; Bệnh sương mai với tỷ lệ 3-5%, nơi cao 7-10%, diện tích 5 ha, tập trung ở Vũ Quang; Bệnh đốm lá tỷ lệ trung bình 7-10%, nơi cao 10-15%, diện tích 12,5 ha, tập trung ở Cẩm Xuyên, Đức Thọ, Hương Sơn

Cây ăn quả có múi bệnh chảy gôm tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 5-7%, diện tích 13 ha, tập trung ở Hương Khê, Vũ quang; Sâu vẽ bùa tỷ lệ trung bình 1-3%, nơi cao 10-17%, diện tích 52 ha, tập trung ở Vũ Quang, Hương Khê; Sâu nhớt mật độ 1-2con/cành, nơi cao 3-5 con/cành, diện tích 35 ha; Sâu róm mật độ trung bình 0,5-1 con/cành, nơi cao 2 con/cành, diện tích 30 ha, tập trung ở Hương Khê; Nhện nhỏ diện tích 5ha, sâu xanh bướm phượng 8 ha, tập trung ở vùng trồng cây ăn quả Vũ Quang, Hương Khê, Hương Sơn.

Hiện nay, các loại cây trồng vụ Xuân đang trong quá trình sinh trưởng mạnh nên cần tập trung phòng, trừ sâu bệnh để tránh thiệt hại, nhất là bệnh đạo ôn gây hại đối với cây lúa.

  5.2. Chăn nuôi

Với kết quả như phản ánh ở trên cho thấy sản xuất chăn nuôi quý I năm 2021 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước cả về số lượng cũng như sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng của đàn vật nuôi. Đàn đại gia súc trâu, bò số lượng tổng đàn ổn định, sản lượng thịt hơi tăng so với cùng kỳ năm trước do chăn nuôi lợn gặp khó khăn, giá lợn vào dịp tết vẫn tương đối cao trong khi giá thịt bò ổn định hơn nên nhu cầu tiêu dùng thịt bò vẫn cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang xẩy ra trên địa bàn tỉnh, chăn nuôi lợn còn khó khăn nhưng việc tái đàn đã được thực hiện và tổng đàn lợn đang có xu hướng tăng lên so với cùng kỳ năm trước, đảm bảo nguồn cung lợn thịt phục vụ nhu cầu của người dân trên địa bàn, nhất là dịp Tết vừa qua. Tổng số lượng và sản lượng gia cầm tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi gia cầm trên địa bàn chủ yếu là chăn nuôi gà với số lượng gà chiếm 85,88% tổng đàn gia cầm và sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng chiếm 77,01% tổng sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng trong qúy I năm 2021. Trong khi chăn nuôi gia súc gặp khó khăn thì phát triển chăn nuôi gia cầm là phù hợp, nhất là đối với chăn nuôi nông hộ.


Tình hình dịch bệnh, thiệt hại:Theo báo cáo của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Tĩnh, đến thời điểm hiện nay trên địa bàn tỉnh đang có các loại dịch bệnh chưa qua 21 ngày: bệnh viêm da nổi cục trên trâu bò có 2.687 con/1.988 hộ/422 thôn/108 xã/9 huyện. Tổng số gia súc mắc bệnh chết, tiêu hủy 166 con, khối lượng 19,8 tấn; Dịch tả lợn Châu Phi tại 9 xã/5 huyện (Đức Thọ, Hương Sơn, Cẩm Xuyên, thị xã Kỳ Anh, Nghi Xuân). Số con mắc bệnh, chết, tiêu hủy là 323 con; Bệnh cúm gia cầm 9H5N6) đang xảy ra tại xã Lưu Vĩnh Sơn (huyện Thạch Hà).

  5.3 Lâm nghiệp

Mặc dù các chủ rừng tích cực triển khai thực hiện trồng rừng vụ Xuân Hè năm 2021. Tuy nhiên, do diện tích rừng trồng chủ yếu là rừng sản xuất nên kết quả trồng rừng phụ thuộc vào chu kỳ khai thác. Kết quả trồng rừng tập trung quý I/2021 không có nhiều biến động, chỉ tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Năm 2021, theo kế hoạch thì toàn tỉnh sẽ trồng khoảng hơn 3 triệu cây xanh, ngoài hơn 1 triệu cây xanh đã trồng, số còn lại sẽ được các địa phương tiếp tục thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh. Sản lượng gỗ thường phụ thuộc vào chu kỳ khai thác của rừng sản xuất nên thường thiếu ổn định giữa các tháng. Kết quả sản lượng gỗ khai thác trong quý I/2021 tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi đang có xu thế ngày càng giảm do nhu cầu sử dụng giảm.


Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến ngày 15/3/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh không xẩy ra cháy rừng nhưng đã xẩy ra 5 vụ phá rừng (giảm 4 vụ), với diện tích rừng bị phá là 1,52 ha (giảm 1,84 ha) so với cùng kỳ năm trước.

  5.4 Thủy sản

Tổng sản lượng thủy hải sản quý I/2021 vẫn ổn định và tiếp tục có bước phát triển hơn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác những chuyến biển đầu năm đạt khá với nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế, nhất là được mùa cá cơm, cá đù, sứa...Với giá bán sản phẩm ổn định nên ngư dân phấn khởi bám biển khai thác hải sản. Cùng với đó, các hộ nuôi trồng cũng thu hoạch sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết. Tuy nhiên, do diện tích nuôi trồng mà nhất là các ao nuôi nhỏ trong dân ngày càng giảm nên sản lượng nuôi trồng giảm so với cùng kỳ năm trước.


Vụ tôm Xuân Hè 2021 toàn tỉnh dự kiến sẽ sản xuất trên diện tích 2.526 ha với hơn 869 triệu con giống. Trong đó: thành phố Hà Tĩnh 310 ha, thị xã Kỳ Anh 510 ha, huyện Kỳ Anh 591 ha, Cẩm Xuyên 300 ha, Thạch Hà 266 ha, Lộc Hà 125 ha, Nghi Xuân 424 ha. Hiện nay, tranh thủ thời tiết nắng ráo, các hộ nuôi tôm đang tích cực xử lý, cải tạo ao nuôi và xuống giống đảm bảo đúng lịch thời vụ. Tôm vẫn đang là sản phẩm nuôi chủ lực của địa phương. Nuôi tôm theo hướng thâm canh - an toàn sinh học nhằm giúp tôm tăng sức đề kháng, hạn chế dịch bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo VSATTP vẫn đang là hướng đi được Hà Tĩnh mở rộng trong vụ nuôi năm nay và hy vọng vụ tôm Xuân Hè 2021 sẽ thắng lợi.

Trong tháng, dịch đốm trắng xuất hiện gây hại trên tôm với diện tích nhiễm bệnh 1,7 ha, tại thành phố Hà Tĩnh và huyện Lộc Hà.

 6. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 3/2021 ước tính tăng 9,54% so với tháng trước và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, do sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, các doanh nghiệp đã trở lại hoạt động bình thường. Tính chung quý I năm 2021, thì chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 17,53% so cùng kỳ năm trước. Như vậy chỉ số sản xuất công nghiệp đã tăng trở lại sau mức giảm nhẹ của cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do một số doanh nghiệp có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao tiếp tục ổn định hoạt động sản xuất (cùng kỳ năm trước sản lượng giảm do gặp khó khăn trong sản xuất, tạm ngừng bảo dưỡng thiết bị đặc biệt là ngành sản xuất kim loại Công ty Formosa Hà Tĩnh). Quý I năm 2021, trong mức tăng chung 17,53% của toàn ngành công nghiệp thì ngành khai khoáng đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 18,12 điểm phần trăm (là ngành chiếm tỷ trọng chủ yếu toàn ngành công nghiệp); sản xuất và phân phối điện đóng góp âm 0,17 điểm phần trăm; cung cấp nước và xử lý rác thải đóng góp âm 0,44 điểm phần trăm.

 

 Tính chung 3 tháng đầu năm 2021 trong 25 nhóm ngành công nghiệp cấp 2, có 13 nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 6 nhóm ngành có mức tăng cao, đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung toàn ngành công nghiệp như: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 43,2%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 32,55%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 28,56%; Sản xuất kim loại tăng 27,91%; Sản xuất đồ uống tăng 19,62%; Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 19,58%;… Bên cạnh đó còn có 12 nhóm ngành giảm làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng toàn ngành như: công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 27,64%; Sản xuất trang phục giảm 21,95%; Khai thác, xử lý và cung cấp nước giảm 14,73%; In, sao chép bản ghi các loại giảm 13,02%; Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu giảm 9,48%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 8,91%;…

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2021 ước tăng 9,19% so với tháng trước và tăng 8,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý 1/2021, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp tăng 24,75% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, 3 tháng đầu năm 2021 nhu cầu tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của hoạt động công nghiệp chế biến, chế tạo. Để đạt được kết quả trên là nhờ đóng góp tích cực của 5 nhóm ngành: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 820,04%; Sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 147,65%; Sản xuất kim loại tăng 27,26%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,34%; Sản xuất đồ uống tăng 6,73%. Tuy nhiên, bên cạnh đó có một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 63,61%; Sản xuất trang phục giảm 46,72%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 43,63%; Dệt giảm 27,12%: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 19,05%…

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 3/2021 tăng 34,56% so với tháng trước và tăng 70,84% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tồn kho của sản phẩm than cốc của Công ty Formosa Hà Tĩnh (tăng 783,69% so với cùng kỳ). Nguyên nhân là do Formosa sản xuất ra nguyên liệu chủ yếu giữ lại để phục vụ cho sản xuất của doanh nghiệp. Ngoài ra chỉ số tồn kho tăng cao do một số ngành như: sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 75,6%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 69,26%; Chế biến gỗ và sản xuất từ các sản phẩm từ gỗ tăng 37,09%. Có 2 ngành công nghiệp chỉ số tồn kho giảm mạnh so với cùng kỳ là ngành dệt giảm 69,38% và ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máymóc, thiết bị) giảm 47,55%.

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp trong tháng 3/2021 tương đối ổn định, không có sự thay đổi nhiều so với tháng 2/2021. Lao động của toàn ngành công nghiệp tháng 3/2021 tăng 0,6% so với tháng 2/2021, tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước giảm 0,31% và cộng dồn 3 tháng đầu năm giảm 2,05% so với cùng kỳ năm trước.

 7. Thương mại, dịch vụ

7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa


Quý I năm 2021, tình hình hoạt động kinh doanh trên địa bàn Hà Tĩnh tiếp tục gặp khó khăn. Dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu dẫn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao thương, đi lại, sử dụng dịch vụ bị ảnh hưởng. Giá cả nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

 - Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2021 ước đạt 3.412,94 tỷ đồng, giảm 13,88% so với tháng trước và tăng 17,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Xăng dầu các loại tăng 37,41%; Hàng may mặc tăng 38,38%; Nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 43,73%; Đá quý, kim loại tăng 36,65%; Nhóm đồ dùng, dụng cụ gia đình tăng 13,20%. Nguyên nhân tổng mức bán lẻ tháng 3/2021 giảm so với tháng trước là do: (1) Do ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, thời điểm tháng sau Tết nhu cầu và giá cả các nhóm lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc, phương tiện đi lại, đá quý đạt thấp hơn. Trong khi các nhóm vật liệu xây dựng tăng giá. (2) Do ảnh hưởng của thị trường thế giới tác động đến giá cả các loại hàng hóa trong nước. Các nhóm hàng hóa chịu ảnh hưởng gồm sắt thép, đá quý, nhiên liệu xăng dầu, khí đốt hóa lỏng.

 - Tổng mức bán lẻ hàng hóa Quý 1 năm 2021: Mặc dù tháng 3/2021 có sự sụt giảm so với tháng trước nhưng do nhu cầu tiêu dùng hàng hóa tăng cao trong dịp Tết nên tính chung 3 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hoá vẫn duy trì được mức khá. Ước quý I/2021 tổng mức bán lẽ hàng hóa đạt 11.700,21 tỷ đồng, tăng 12,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 5.323,97 tỷ đồng, tăng 21,89%; Hàng may mặc ước đạt 686,80 tỷ đồng, tăng 16,53%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.303,65 tỷ đồng, tăng 10,12%; Vật phẩm văn hóa giáo dục ước đạt 68,99 tỷ đồng, tăng 15,13%; Gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 471,51 tỷ đồng, tăng 7,0%; Ô tô con ước đạt 1.006,51 tỷ đồng, giảm 4,1%; Phương tiện đi lại trừ ô tô con ước đạt 577.04 tỷ đồng, giảm 0,16%; Xăng dầu các loại ước đạt 960.07 tỷđồng, tăng 10,57%; Nhiên liệu khác ước đạt 174,48tỷ đồng, tăng 20,65%; Đá quý, kim loại quý các loại ước đạt 185.07 tỷ đồng, tăng 1,03%; Hàng hóa khác ước đạt 641,20 tỷ đồng, giảm 3,34%; Sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước đạt 300.92 tỷ đồng, tăng 17,73% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, hoạt động bán lẻ hàng hóa trong quý I năm 2021 tăng cao so quý trước. Một phần do thời điểm cùng quý năm trước chịu ảnh hưởng của đợt bùng phát lần thứ 2 của dịch Covid-19, doanh thu bán lẻ cùng kỳ đạt thấp. Mặt khác, mặt bằng giá cả cũng tăng mạnh, tác động đến doanh thu bán hàng hóa.

Dự báo nhu cầu tiêu thụ hàng hóa trên địa bàn trong thời gian tới vẫn tiếp tục có xu hướng tăng, nhưng với mức tăng không cao. Lượng cung hàng hóa vẫn dồi dào về số lượng, đa dạng về chủng loại, đảm bảo về chất lượng và sẽ đáp ứng được đầy đủ sức mua của người tiêu dùng. Một số nhóm hàng hóa có thể sẽ tăng cao như: Hàng lương thực, thực phẩm; hàng may mặc; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình; vật liệu xây dựng...

7.2. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ khác


7.2.1. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành

- Ước tháng 3/2021 doanh thu đạt 439,74 tỷ đồng, tăng 4,24% so với tháng trước và tăng 42,78% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú ước đạt 16,49 tỷ đồng, tăng 3,67% so với tháng trước và tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ ăn uống ước đạt 421,65 tỷ đồng, tăng 4,21% so với tháng trước và tăng 44,76% so với cùng kỳ năm trước; Dịch vụ du lịch lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch ước đạt 1,6 tỷ đồng, tăng 18,63% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 209,06%. Nguyên nhân tăng là do hoạt động du lịch, lữ hành trong tháng chủ yếu là hình thức du lịch tâm linh, khách đi lễ và tham quan, vãn cảnh đầu năm. Bên cạnh đó trong tháng trùng vào ngày Quốc tế phụ nữ 08/3 và kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn 26/3 nên lượng khách thập phương và địa phương dâng hương hoa tri ân tại các địa chỉ đỏ như Ngã ba Đồng Lộc, khu tưởng niệm Hà Huy Tập, Khu tưởng niệm Lý Tự Trọng...tăng hơn so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do đặc thù về vị trí địa lý, diện tích địa bàn nhỏ, nên khách tham quan không có thời gian lưu lại hoặc lưu lại ngắn.

- Tính chung Quý I năm 2021,doanh thu hoạt động l­ưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước đạt 1.311,33 tỷ đồng, tăng 13,14% so với cùng kỳ, trong đó: Dịch vụ l­ưu trú đạt ước 48,62 tỷ đồng, giảm 25,20%; Dịch vụ ăn uống ước đạt 1.258,37 tỷ đồng, tăng 15,44% so với cùng kỳ năm trước. Du lịch lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch ước đạt 4,34 tỷ đồng, tăng 7,53% so với cùng kỳ năm trước.

7.2.2. Hoạt động dịch vụ khác:

- Doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 3/2021 ước đạt 166,58 tỷ đồng, tăng 0,93% so với tháng trước và tăng 51,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có mức tăng cao như: Doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 3,65% so với tháng trước và tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 65,9% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do trong tháng thời tiết thuận lợi cho hoạt động xây dựng, các công trình xây dựng cơ bản tiếp tục thi công sau dịp nghỉ Tết nên dịch vụ thuê máy móc, thiết bị hỗ trợ hoạt động xây dựng cũng tăng. Các dịch vụ cưới hỏi, hiếu hỷ, thuê xe, dịch vụ thuê đồ dùng cá nhân và gia đình tăng. Đó là các nguyên nhân chính khiến cho doanh thu nhóm dịch vụ hành chính, dịch vụ hỗ trợ tăng.

         - Tính chung Quý 1 đầu năm 2021, doanh thu dịch vụ khác thực hiện ước đạt 495,31 tỷ đồng, tăng 23,59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: nhóm kinh doanh bất động sản đạt 53,74 tỷ đồng, tăng 4,19%; Hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 106,20 tỷ đồng, tăng 35,46%; Giáo dục đào tạo ước đạt 21,93 tỷ đồng, giảm 9,36%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 47,68 tỷ đồng, tăng 4,97%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 49,18 tỷ đồng, tăng 7,76%; Dịch vụ khác ước đạt 216,57 tỷ đồng, tăng 39,26%, trong đó dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 50,85 tỷ đồng, tăng 16,02% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, hoạt động dịch vụ 3 tháng đầu năm so với cùng kỳ có mức tăng trưởng mạnh. Nguyên nhân là do cùng thời điểm này Dịch Covid-19 đã bùng phát mạnh làm ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội. Năm nay, mặc dù dịch bùng phát ở một số tỉnh nhưng Hà Tĩnh vẫn được kiểm soát chặt chẽ, các đơn vị kinh doanh vẫn hoạt động bình thường với những biện pháp phòng dịch hiệu quả, đảm bảo thực hiện mục tiêu kép, phục hồi và phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo công tác phòng chống dịch.

7.3. Hoạt động vận tải


Hoạt động vận tải tháng 3/2021 ước đạt 463,03 tỷ đồng, tăng 0,37% so tháng trước và tăng 15,92% so cùng kỳ năm trước.Vận tải hành khách ước đạt 143 tỷ đồng, giảm 5,76% so với tháng trước và tăng 23,18% so với cùng kỳ năm trước; vận tải hàng hóa ước đạt 254,9 tỷ đồng, tăng 3,21% so với tháng trước và tăng 11,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 65,13tỷ đồng, tăng 4% so với tháng trước và tăng 17,23% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố thời vụ sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nhu cầu đi lại giảm xuống bên cạnh đó sản xuất kinh doanh quay trở lại hoạt động bình thường nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng lên.

Tính chung 3 tháng đầu năm 2021 doanh thu vận tải ước tính đạt 1.415,59 tỷ đồng, tăng 9,97% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: Vận tải hành khách ước tính đạt 439,1 tỷ đồng, tăng 11,04%; Vận tải hàng hóa ước tính đạt 764,01 tỷ đồng, tăng 5,51%; Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 212,48 tỷ đồng, tăng 26,67% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do thời điểm đầu năm 2020 dịch Covid-19 mới bùng phát nên người dân tập trung cao cho công tác phòng chống dịch, hạn chế đi lại, học sinh, sinh viên được nghỉ học dài ngày. Năm nay, mặc dù những tháng đầu năm dịch bệnh tái bùng phát trên phạm vi nhiều tỉnh thành của cả nước, tuy nhiên người dân an tâm hơn nên nhu cầu đi lại tăng. Bên cạnh đó các hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn diễn ra bình thường, nhu cầu vận tải hàng lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng tăng. Đó là những nguyên nhân chính khiến cho doanh thu vận tải hành khách và hàng hóa tăng so với cùng kỳ. Điểm đáng chú ý dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải những tháng đầu năm 2021 tăng trưởng cao so cùng kỳ năm trước. Đó chính là nhờ hoạt động sản xuất ổn định Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh với lượng hàng hóa xuất, nhập khẩu thông qua cảng ở 2 bến cầu cảng 1 và 2 cảng Vũng Áng đã được khai thác.

8. Các vấn đề xã hội

8.1. Dân số, lao động và việc làm


Nhìn chung quý I năm 2021, tình hình về lao động và giải quyết việc làm cho người lao động tại Hà Tĩnh thuận lợi hơn so với năm trước. Mặc dù dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào đầu năm 2021, nhưng với sự quan tâm và chỉ đạo của chính quyền các cấp nên ở Hà Tĩnh ít bị ảnh hưởng bởi dịch, các hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ vẫn diễn ra bình thường, nhiều doanh nghiệp đã khởi động các kế hoạch đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao nhu cầu sử dụng lao động, nên tình hình về lao động và việc làm ở Hà Tĩnh có phần khởi sắc hơn.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý I năm 2021 ước tính 695.257 người, chiếm khoảng 53,48% dân số toàn tỉnh; trong đó lực lượng lao động là nam 334.088 người (chiếm 48,05% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); lực lượng lao động nữ là 361.169 người (chiếm 51,95% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); số lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm 678.693 người (chiếm 97,62% trong tổng số lượng lao động từ 15 tuổi trở lên); số người không có việc làm là 16.564 người (chiếm 2,38% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên); xét riêng trong độ tuổi lao động thì tỷ lệ thất nghiệp ước tính là 3,08%. Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế thì: tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 51,32% trong tổng số (tương ứng 348.325 người); Công nghiệp - Xây dựng chiếm 17,51% (tương ứng 118.866 người); Thương mại - Dịch vụ chiếm 31,17% (tương ứng 211.502 người).

Ước tính quí I/2021 số người được giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động là 5.952 người, đạt 27,05% kế hoạch năm 2021, tăng 43,35% so cùng kỳ năm 2020. Trong đó: Lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 2.866 người, tăng 25,76%; lao động đi làm việc ngoại tỉnh 907 người, tăng 57,74%; xuất khẩu lao động 2.179 người, tăng 55,75%. Thị trường xuất khẩu lao động ở Hà Tĩnh chủ yếu làm việc tại Nhật Bản là 1.290 người, chiếm 59,2% trong tổng số người đi xuất khẩu lao động; Đài Loan là 758 người, chiếm 34,79%; còn lại các nước khác là 131 người, chiếm 6,01%.

8.2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Trong quý I năm 2021, nhìn chung tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh còn gặp nhiều khó khăn. Dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu dẫn tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, giao thương, đi lại, sử dụng dịch vụ bị ảnh hưởng. Giá cả nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân. Cùng với đó tình hình chăn nuôi cũng bấp bênh do tình hình dịch bệnh diễn biến bất thường. Trước tình hình đó các cấp các ngành đã tăng cường công tác kiểm tra giám sát nhằm đảm bảo nguồn thực phẩm đạt chất lượng. Huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chỉ đạo ưu tiên hỗ trợ vay vốn sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới, nên tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh không xảy ra, đời sống dân cư quý I năm 2021 ổn định so với cùng kỳ năm trước.

Các chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội thực hiện đầy đủ, kịp thời. Quí I/2021, toàn tỉnh đã trao tặng khoảng 201.948 suất quà với tổng số tiền khoảng 71,24 tỷ đồng. Trong đó, quà cho người có công: 97.624 suất quà trị giá khoảng 29,33 tỷ đồng; quà cho hộ nghèo, hộ cận nghèo 20.694 suất quà trị giá khoảng 16,99 tỷ đồng; và 83.630 suất quà trị giá khoảng 24,92 tỷ đồng cho các đối tượng khác. Đồng thời, trao tặng 07 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 34,5 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương xây mới là 144 nhà kinh phí khoảng 9.210 triệu đồng; Số nhà tình nghĩa, nhà tình thương sửa chữa là 19 nhà kinh phí khoảng 1.110 triệu đồng. Bên cạnh đó, đã cấp khoảng 19.416 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, 29.789 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo, 124.254 thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi và 37.101 thẻ bảo hiểm y tế cho người có công.

8.3. Hoạt động giáo dục đào tạo năm học 2020-2021

- Giáo dục phổ thông:

+Giáo dục mầm non: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 254 trường mầm non, giảm 11 trường so với cùng kỳ năm trước do sát nhập xã và 2.805 lớp tăng 7,51%. Tổng số giáo viên 5.254 giáo viên tăng 3,22%; học sinh nhà trẻ 3.457 em và mẩu giáo 75.693 em. Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi có 13/13 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn.

+ Giáo dục tiểu học: Trên địa bàn tỉnh có 221 trường, giảm 20 trường so với cùng kỳ năm trước do sát nhập xã và có 4.030 lớp, tăng 2,23%; tổng số giáo viên giảng dạy 5.376 giáo viên, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; tổng số học sinh có 121.209 học sinh, tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước. Số học sinh học đúng tuổi (6-10 tuổi) ở cấp tiểu học là 117.706 em, chiếm tỷ lệ 97,11%. Toàn tỉnh có 184 (tỉ lệ 83,26%) trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 107 trường (tỉ lệ 48,42%) đạt chuẩn mức độ 2. Có 100% xã, phường, thị trấnđạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3.

+Giáo dục Trung học: Trung học cơ sở có 147 trường, giảm 3 trường so với cùng kỳ năm trước, do sát nhập xã và có 2.366 lớp, giảm 0,17%; tổng số học sinh 78.464 học sinh, tăng 3,53%; tổng số giáo viên giảng dạy có 4.599 giáo viên, giảm 2,13% so với cùng kỳ năm trước. Học sinh học đúng tuổi (11-14 tuổi) ở cấp trung học cơ sở có 76.045 em, chiếm tỉ lệ 96,92%. Toàn tỉnh có 125 trường THCS (tỉ lệ 85,03%) đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 6 trường (tỉ lệ 4,08%) đạt chuẩn mức độ 2.

Trung học phổ thông: Có 45 trường, giảm 01 trường so với cùng kỳ năm trước và có 1.200 lớp, giảm 0,99%; tổng số học sinh 43.859 học sinh, tăng 0,1%; tổng số giáo viên 2.776 giáo viên, tăng 0,29% so với cùng kỳ năm trước. Học sinh học đúng tuổi (15-17 tuổi) ở cấp THPT có 42.701 em, chiếm tỉ lệ 97,36%. Toàn tỉnh có 33 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm 73,33%, trong đó chưa có trường nào đạt chuẩn mức độ 2.

- Giáo dục đào tạo:Hiện nay, trên địa bàn tỉnh chỉ có 1 trường Đại học (Đại học Hà Tĩnh), có 206 giáo viên, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: trình độ trên đại học 191 người; đại học, cao đẳng 15 người. Tổng số học sinh đang học tại trường là 1.657 học sinh, trong đó: hệ đại học có 1.584 học sinh và hệ cao đẳng có 73 học sinh; số học sinh tuyển mới 336 học sinh, trong đó: tuyển mới hệ đại học là 317 học sinh và hệ cao đẳng 19 học sinh.

Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Trong đó chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề trọng điểm, liên kết đào tạo, phân luồng học sinh học nghề cập nhật thông tin thị trường lao động. Với những nỗ lực đó, trong quý I năm 2021 các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã duy trì tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 463 người. Trong đó: trình độ trung cấp 120 người; trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên khoảng 343 người.

7.4. Hoạt động Y tế

Quý I/2021, ngành Y tế Hà Tĩnh đã thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh; bảo đảm tốt công tác khám chữa bệnh, cấp cứu và điều trị ở bệnh viện các tuyến; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quản lý hành nghề y, dược ngoài công lập và công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định của pháp luật.

- Tình hình dịch bệnh: Công tác bảo đảm an ninh y tế; công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, kịp thời, chủ động; đặc biệt là dịch COVID-19, phát hiện sớm, kịp thời khống chế không để dịch lớn xảy ra; ứng phó kịp thời với các tình huống khẩn cấp, đặc biệt là các dịch bệnh nguy hiểm, dịch bệnh mới. Củng cố vững chắc hệ thống tiêm chủng, tăng cường công tác phòng, chống bệnh lao, bệnh sốt rét; giảm số mắc và chết do các bệnh truyền nhiễm.

Tính đến ngày 17/3/2021, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh không có bệnh nhân bị nhiễm Covid-19; hiện có 20 người cách ly tại cơ sở y tế; 293 người cách ly tập trung, cộng dồn cách ly tập trung toàn tỉnh là 2.623 người, số hoàn thành cách ly 2.330 người; công tác quản lý theo dõi, cách ly tại nhà 09 người, theo dõi tại nhà 671 người, tính từ ngày 29/1/2021 đến nay, theo dõi, cách ly tại nhà 71.134 người. Tất cả các trường hợp trên đều có sức khỏe ổn định.

Tính từ ngày 16/02-15/3/2021 trên địa bàn Hà Tĩnh 3 ca mắc bệnh quai bị, 10 ca mắc lỵ trực trùng; 12 ca mắc lỵ a míp; 59 ca mắc bệnh thủy đậu, 1.871 ca mắc bệnh cúm. Tính chung quý I/2021 có 34 ca mắc bệnh sốt rét, giảm 37 ca so với cùng kỳ năm 2020; 11 ca mắc bệnh quai bị, giảm 8 ca; 31 ca mắc lỵ trực trùng, giảm 18 ca; 45 ca mắc lỵ a míp, giảm 1 ca; 82 ca mắc bệnh thủy đậu, giảm 2 ca; 5.879 ca mắc bệnh cúm, giảm 1.157 ca. Tất cả các bệnh dịch trên đều không tạo thành ổ dịch và không có trường hợp nào tử vong.

- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Để hạnchế số người mắc bệnh HIV/AIDS, ngành Y tế và các địa phương đã tích cực phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, các ban, ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS... đến mọi người dân bằng nhiều hình thức khác nhau. Đồng thời tiếp tục duy trì hiệu quả chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại cả 03 cơ sở điều trị. Tính từ 16/02-15/3/2021 Hà Tĩnh chỉ có 4 người nhiễm mới HIV (tăng 1 người so với cùng kỳ năm 2020), 4 người chuyển thành AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước) và không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước). Như vậy, tính từ ngày 16/12/2020-15/03/2021 có 14 người nhiễm mới HIV (giảm 01 người so với cùng kỳ năm 2020), 10 người chuyển thành AIDS (giảm 2 người) và không có người chết vì AIDS (không thay đổi so với cùng kỳ năm trước).

- Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Thời gian qua, hoạt động thanh tra, kiểm tra được tổ chức thường xuyên theo các hình thức chuyên ngành, liên ngành, đã phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm, ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm về an toàn thực phẩm. Tính từ ngày 16/02-15/3/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xẩy ra 1 vụ ngộ độc tập thể (tại xã Sơn Lộc, huyện Can Lộc) làm 12 người bị ngộ độc; ngoài ra, còn có 115 ca bị ngộ độc thực phẩm đơn lẻ; không có người chết vì ngộ độc. Tính chung quý I/2021 (từ 16/12/2020-15/3/2021) xảy ra 1 vụ ngộ độc tập thể làm 12 người bị ngộ độc, ngoài ra còn có 322 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (riêng dịp Tết Nguyên Đán (từ ngày 10/02-16/02/2021) không xảy ra ngộ độc tập thể, chỉ có 31 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ); so với cùng kỳ năm 2020 tăng 1 vụ ngộ độc tập thể và tăng 12,59% ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ.

8.5. Hoạt động văn hóa - thể thao

- Hoạt động văn hóa: Quý I/2021 trùng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Tết Nguyên đán, tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch Covid-19 tái bùng phát ở nhiều tỉnh thành trên cả nước nên Hà Tĩnh đã dừng các chương trình nghệ thuật và các hoạt động văn hóa, thể thao, chủ yếu tập trung chỉ đạo triển khai các cụm pano, áp phích, khẩu hiệu tuyên truyền với nội dung mừng Đảng, mừng Xuân trên địa bàn toàn tỉnh. Bên cạnh đó, các lễ hội như: lễ hội chùa Hương Tích, lễ hội Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác... cũng chỉ thực hiện phần lễ, không thực hiện phần hộinhằm đảm bảo an toàn sức khỏe cho người dân.

- Công tác kiểm tra, thanh tra văn hóa: Trong quý I/2021, các di tích đều thực hiện tốt Công điện của Bộ VH,TTDL và chỉ đạo của UBND tỉnh về thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 gây ra. Ngoài ra, Sở Văn hóa, thể thao & Du lịch Hà Tĩnh thực hiện cấp 51giấy phép, trong đó: 4 giấy phép thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, 2 giấy phép thuộc lĩnh vực du lịch, 1 giấy phép thuộc lĩnh vực thể thao và 44 giấy phép thuộc lĩnh vực văn hóa cơ sở.

Sở Văn hóa, thể thao & Du lịch Hà Tĩnh đồng thời phối hợp với đội kiểm tra liên ngành văn hóa xã hội tỉnh kiểm tra các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch trước, trong và sau tết. Tổ chức kiểm tra tại 80 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và du lịch trên địa bàn tỉnh; lập 55 biên bản kiểm tra, nhắc nhở các đơn vị chấp hành các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống dịch; ban hành 01 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 10 triệu đồng. Tổ chức kiểm tra công tác phòng chống dịch Covid 19 tại Chùa Hương, Đền Củi, Đền Cả.

- Hoạt động thể thao: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp từ ngày 27/01/2021 đến nay, các hoạt động thể dục thể thao quần chúng có phần trầm lắng. Trước thời điểm dịch bùng phát trở lại, các hoạt động thể thao quần chúng vẫn diễn ra đa dạng, nhằm nâng cao sức khỏe như: Đại hội Điền kinh - thể thao học sinh (từ ngày 11/12/2020-22/2021) do ngành Giáo dục TP Hà Tỉnh tổ chức; Đại hội Điền kinh - thể thao học sinh năm học 2020 - 2021 do ngành Giáo dục huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) tổ chức diễn ra từ ngày 27 - 28/01; Giải Việt dã 2021 “Tiếp sức cùng đồng đội” do CLB Hà Tĩnh Runners tổ chức sáng ngày 17/01, tại Công viên trung tâm TP Hà Tĩnh.

Thể thao thành tích cao: Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid -19 nên trong quý I năm 2021 diễn ra rất ít giải, Hà Tĩnh giành được 01 huy chương vàng, 1 huy chương bạc, 7 huy chương đồngtại giải vô địch Pencak Silat Thanh Hóa mở rộng diễn ra từ ngày 26/12/2020 với 200 VĐV đến từ 16 tỉnh, thành, ngành trên cả nước.

8.6. Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội


- Về an toàn giao thông: Từ ngày 15/02 - 14/3/2021, trên địa bàn Hà Tĩnh xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ so với cùng kỳ năm trước không thay đổi, làm chết 6 người (giảm 2 người), bị thương 6 người (tăng 4 người).

Như vậy, tính từ 15/12/2020 đến 14/3/2021 đã xẩy ra 24 vụ tai nạn giao thông, 18 người chết, 11 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước giảm 8 vụ; giảm 10 người chết; giảm 1 người bị thương. Tất cả đều là tai nạn giao thông đường bộ nguyên nhân chủ yếu là không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường do sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép khi tham gia giao thông.

 - Về an ninh, chính trị: Trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu, tính từ ngày 10/02/2021- 16/02/2021 đã xảy ra 5 vụ phạm pháp hình sự (không đổi so với cùng kỳ năm trước), trong đó cố ý gây thương tích 03 vụ làm 02 người chết, 02 người bị thương. Phát hiện, bắt giữ 434 vụ, 437 đối tượng tàng trữ, sử dụng pháo trái phép (tăng 135 vụ, 177 đối tượng so với cùng kỳ năm 2020). Do tăng cường công tác tuyên truyền, vận động thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ vào pháo (thu hồi 1,2kg pháo và 165 quả pháo các loại); triển khai đồng bộ, quyết liệt các biện pháp đấu tranh, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật về pháo nên tình trạng sử dụng pháo trên địa bàn tỉnh giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2020, đặc biệt không xảy ra tình trạng nổ mìn, pháo tự chế, không có trường hợp bị thương do đốt pháo nổ; tai nạn khác 04 vụ, làm 03 người chết, bị thương 01 người.

8.7. Môi trường

- Tình hình cháy, nổ: Từ ngày 15/02/2021 đến ngày 14/3/2021) đã xảy ra 2 vụ cháy, không có người chết, không có người bị thương, tổng thiệt hại ước tính là 100 triệu đồng; so với cùng kỳ năm trước giảm 2 vụ, người chết và bị thương không thay đổi; trong tháng không xảy ra vụ nổ. Tính chung quý I/2021 (từ ngày 15/12/2020-14/3/2021) xảy ra 8 vụ cháy, làm chết 02 người, thiệt hại ước tính 2,25 tỷ đồng; xảy ra 01 vụ nổ, do nổ bình làm bị thương 01 người so với cùng kỳ năm trước tăng 1 vụ, tăng 1 người bị thương.

- Công tác bảo vệ môi trường: Trong tháng, Hà Tĩnh đã phát hiện 10 vụ vi phạm môi trường, tăng 5 vụ so với cùng kỳ 2020; đã xử lý 8 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 35 triệu đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm 2021, Hà Tĩnh đã phát hiện 34 vụ (tăng 28 vụ so với cùng kỳ năm 2020); đã xử lý 17 vụ, với số tiền xử phạt 147,95 triệu đồng. Các hình thức vi phạm: Khai thác,vận chuyển đất, cát trái phép 28 vụ; không có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn kỹ thuật 1 vụ, khai thác khoáng sản trái phép 1 vụ, 3 vụ xử lý rác không đúng quy định, 1 vụ vi phạm môi trường khác. Hình thức nộp phạt chủ yếu là xử lý hành chính.

 Số liệu kinh tế-xã hội quí I năm 2021


BBT


Thêm nhận xét mới

 Bình luận của bạn đã được gửi thành công. Cảm ơn bạn!   Làm mới
Lỗi: Vui lòng thử lại

Thống kê trong ngày

Lượt truy cập:   3.689
Tổng số truy cập:   31.218.270

Sự kiện