Hà Tĩnh tổng kết tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Hà Tĩnh đã chủ động cụ thể hóa Nghị quyết 05-NQ/TW bằng việc ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện môi trường đầu tư (PCI), tập trung vào hạ tầng trọng điểm (Khu kinh tế Vũng Áng, cảng biển), nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, chuyển đổi số, từng bước chuyển dịch từ tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu, tập trung vào chất lượng và hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh và năng suất lao động.

Ngày 26/8/2025, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã có Báo cáo số 630-BC/TU về tổng kết đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 05-NQ/TW) và các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số” trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Báo cáo đã phân tích, đánh giá và đề xuất về các nội dung: (i) Công tác phổ biến, quán triệt và xây dựng kế hoạch thực hiện nghị quyết số 05-NQ/TW; (ii) Tình hình thể chế hóa, cụ thể hóa các nội dung của nghị quyết số 05-NQ/TW; (iii) Kết quả triển khai thực hiện nghị quyết số 05-NQ/TW; (iv) Các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao và bền vững gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới nhằm đạt mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045; (v) Đề xuất, kiến nghị.

Ngày 24/11/2025, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương ban hành Công văn số 1336-CV/BCSCLTW về việc hướng dẫn tổng kết sâu và xây dựng các báo cáo, chương trình hành động để triển khai các nhiệm vụ tại Kết luận 203-KL/TW ngày 04/11/2025 của Bộ Chính trị; Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã thành lập Tổ công tác, chỉ đạo ban hành Kế hoạch, tổ chức tổng kết. Trên cơ sở đề xuất của Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh tại Công văn số 247-CV/ĐU, ngày 25/12/2025, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh tổng hợp, báo cáo một số nội dung tổng kết sâu Nghị quyết số 05-NQ/TW như sau:

I. VỀ MÔ HÌNH, CÁCH LÀM HAY, MỚI, ĐỘT PHÁ

1. Về phát triển các mô hình kinh tế mới

Việc tiếp cận và phát triển các mô hình kinh tế mới trên địa bàn tỉnh bước đầu được quan tâm triển khai theo hướng phù hợp với năng lực, lợi thế địa phương. Các yếu tố của kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh từng bước được hình thành trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Ứng dụng công nghệ số, nền tảng số được đẩy mạnh trong quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất - kinh doanh; bước đầu tiếp cận, ứng dụng công nghệ tài chính (Fintech), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu số, tài sản số trong xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch. Hình thành các mô hình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tài nguyên bản địa, sản phẩm OCOP, du lịch nông thôn, dịch vụ sáng tạo, cụ thể:

1.1. Về kinh tế chia sẻ

Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh đã hình thành và phát huy hiệu quả một số mô hình kinh tế chia sẻ tiêu biểu, mang lại hiệu quả rõ nét và thiết thực. Trong lĩnh vực du lịch, mô hình kinh doanh lưu trú theo hướng kinh tế chia sẻ như cho thuê căn hộ, biệt thự, condotel và phát triển du lịch cộng đồng, homestay tại các khu, điểm du lịch đã khai thác hiệu quả cơ sở lưu trú sẵn có trong xã hội, tạo thêm nguồn thu cho người dân, đồng thời góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và thúc đẩy phát triển du lịch địa phương theo hướng bền vững[1]. Trong lĩnh vực nông nghiệp, mô hình liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp và nông dân theo hướng chia sẻ nguồn lực, kỹ thuật và thị trường tiêu thụ đã được triển khai hiệu quả, tiêu biểu như các mô hình nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và liên kết trồng cây nguyên liệu theo chuỗi giá trị[2], qua đó góp phần ổn định đầu ra, nâng cao thu nhập cho người dân, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất và thúc đẩy phát triển nông nghiệp hiện đại. Bên cạnh đó, mô hình chia sẻ, cho thuê máy móc và thiết bị nông nghiệp tại các vùng sản xuất tập trung đã giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu cho hộ sản xuất, nâng cao mức độ cơ giới hóa và hiệu quả sử dụng tài sản, phù hợp với quá trình tích tụ ruộng đất và tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Ngoài ra, việc ứng dụng các nền tảng số trong thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và kết nối tiêu thụ sản phẩm đã hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh doanh mở rộng thị trường, kết nối nhanh cung - cầu, giảm chi phí giao dịch, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số và lan tỏa mô hình kinh tế chia sẻ trên địa bàn tỉnh.

1.2. Về kinh tế tuần hoàn

Mô hình kinh tế tuần hoàn nổi bật được triển khai chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp theo hướng gắn sản xuất với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, đã hình thành các mô hình nông nghiệp hướng hữu cơ, tuần hoàn theo chuỗi giá trị. Trọng tâm là các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, chăn nuôi tuần hoàn liên kết theo chuỗi, trong đó chất thải chăn nuôi được thu gom, xử lý để sản xuất phân bón hữu cơ, tái sử dụng cho trồng trọt, qua đó giảm ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí đầu vào và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Tiêu biểu là các mô hình chăn nuôi lợn hữu cơ, sản xuất nông nghiệp tuần hoàn liên kết với doanh nghiệp[3], trong đó chất thải được xử lý, tái chế làm đầu vào cho trồng trọt, hình thành chu trình sản xuất khép kín, thân thiện với môi trường. Tỉnh đã phê duyệt và triển khai các Đề án về Phát triển nông nghiệp hữu cơ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024-2030, Phát triển khoa học và ứng dụng, chuyển giao công nghệ thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp. Đến nay trên địa bàn toàn tỉnh có 385,94 ha sản xuất theo hướng hữu cơ, trong đó 112,06 ha đã được chứng nhận. Mô hình chăn nuôi lợn hữu cơ liên kết với Công ty Cổ phần Tập đoàn Quế Lâm đã được xây dựng và nhân rộng (46 cơ sở, gần 1.000 con).

1.3. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo

Hà Tĩnh đã từng bước quan tâm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo gắn với thúc đẩy khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Tỉnh chú trọng hoàn thiện thể chế, ban hành các chương trình hành động, kế hoạch cụ thể nhằm khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ[4]; thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và giá trị gia tăng. Hệ thống hỗ trợ đổi mới sáng tạo từng bước được hình thành thông qua việc hợp tác với các viện, trường, trung tâm nghiên cứu; xây dựng sàn giao dịch công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo trong sản xuất, kinh doanh và quản lý. Những kết quả này góp phần tạo nền tảng ban đầu cho hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của tỉnh, từng bước hình thành động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và tri thức.

Từ năm 2016 đến nay, đã triển khai thực hiện 20 dự án thuộc Chương trình Nông thôn miền núi, 02 nhiệm vụ thuộc Chương trình của Bộ Khoa học và Công nghệ, 213 đề tài/dự án cấp tỉnh; trên 80 đề tài, dự án sau nghiệm thu được ứng dụng vào sản xuất và đời sống, nhiều đề tài cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và ban hành các nghị quyết, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực; các đề tài nghiên cứu về văn hóa có giá trị thực tiễn, sức lan tỏa. Nhiều quy trình công nghệ mới, công nghệ tiên tiến được ứng dụng đem lại hiệu quả kinh tế, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, năng lực sản xuất và thu nhập người lao động; đóng góp vào Chương trình xây dựng Nông thôn mới và OCOP. Hiện nay, tỉnh đang triển khai nghiên cứu, phát triển Tổ hợp công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo (Hà Tĩnh Innovation Park) theo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, tạo nền tảng hình thành động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

1.4. Về chuyển đổi số và thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và trí tuệ nhân tạo (AI): 

1.4.1. Về chuyển đổi số và thương mại điện tử: Quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi số và hoạt động thương mại điện tử. Đến nay, có 02 sàn thực hiện thủ tục đăng ký với Bộ Công Thương theo quy định; 47 doanh nghiệp, hộ kinh doanh thực hiện thông báo website bán hàng trên hệ thống quản lý hoạt động thương mại điện tử của Bộ Công Thương; 594 gian hàng với hơn 752 sản phẩm OCOP, công nghiệp nông thôn tiêu biểu, sản phẩm chủ lực Hà Tĩnh lên sàn thương mại điện tử tỉnh Hatiplaza.com; trên 2.000 cơ sở kinh doanh bán lẻ trên các nền tảng thương mại điện tử như sàn thương mại điện tử, tiktok, facebook…; 100% cửa hàng xăng dầu, siêu thị, siêu thị mini, cửa hàng Vinmart+, Coopfood có phần mềm quản lý bán hàng, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt và tích hợp QR code để quét mã thanh toán; hầu hết các doanh nghiệp lớn có website giới thiệu sản phẩm, thực hiện quản lý quy trình sản xuất bằng các phần mềm thông minh và sử dụng các giao dịch điện tử trong hoạt động mua bán hàng. Tổng doanh thu bán lẻ trực tuyến của doanh nghiệp, hộ kinh doanh Hà Tĩnh trên các nền tảng thương mại điện tử (sàn thương mại điện tử shopee, lazada, tiki…) và mạng xã hội (facebook, tiktok…) đạt trên 300 tỷ đồng/năm.

1.4.2. Về thanh toán không dùng tiền mặt: Tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt gắn với chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng, triển khai đồng bộ các giải pháp theo các chương trình, đề án của Trung ương và của tỉnh. Hạ tầng thanh toán được mở rộng với 198 máy ATM, gần 1,5 triệu thẻ ATM, 1.423 máy POS và 45.346 điểm chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt, chủ yếu qua QR Code, phủ rộng đến hệ thống bán lẻ, chợ truyền thống, tạo thuận lợi cho người dân trong giao dịch, tiêu dùng.

Các ngân hàng tích cực ứng dụng công nghệ hiện đại như eKYC, xác thực sinh trắc học, thanh toán không tiếp xúc, QR Code, từng bước phổ cập thanh toán điện tử đến tiểu thương và người dân. Thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng được triển khai hiệu quả trong các lĩnh vực điện, nước, giáo dục, y tế và an sinh xã hội; đến 30/11/2025, tỷ lệ thanh toán tiền điện đạt 100%, tiền nước đạt 90,37%, thu học phí đạt 95,7%, chi trả an sinh xã hội đạt 96%, tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản ngân hàng đạt gần 87,1%. 100% cửa hàng xăng dầu, siêu thị, siêu thị mini, cửa hàng Vinmart+, Coopfood có phần mềm quản lý bán hàng và thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, tích hợp QR Code.

1.4.3. Về trí tuệ nhân tạo (AI): Nâng cao nhận thức và năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ công tác quản lý hành chính nhà nước và công tác Đảng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh thông qua các hội nghị tập huấn[5], qua đó các đại biểu được phổ biến các nội dung tổng quan về AI; nhận biết tính năng, giới hạn và phạm vi ứng dụng của một số công cụ AI phổ biến trong các loại dữ liệu khác nhau; đồng thời tập huấn các kỹ năng ứng dụng một số công cụ AI hỗ trợ trong công tác tham mưu, lập kế hoạch, tổng hợp và phân tích tài liệu, xây dựng báo cáo, lập kế hoạch, tổng hợp tài liệu... Thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm, đẩy mạnh ứng dụng hiệu quả trí tuệ nhân tạo (AI) vào công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp, cũng như trong sản xuất, quản lý, dịch vụ của doanh nghiệp.

2. Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng, coi đây là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế; thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.

Xác định phát triển kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, thời gian qua, Tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng và chất lượng; chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể. Kịp thời ban hành Chương trình hành động[6] triển khai thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị, thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc khơi thông nguồn lực, tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển thực chất, bền vững, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Giai đoạn 2016 - 2025, khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh có bước phát triển rõ nét cả về số lượng và chất lượng. Về quy mô, từ khoảng 5.000 doanh nghiệp đang hoạt động năm 2015, đến năm 2025 toàn tỉnh có khoảng 13.000 doanh nghiệp tư nhân sau 10 năm tăng thêm 8.000 doanh nghiệp, tốc độ tăng bình quân đạt khoảng 16%/năm. Về chất lượng, các doanh nghiệp từng bước nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô vốn và lao động, cải thiện hiệu quả sản xuất - kinh doanh; lợi nhuận ngày càng ổn định, đóng góp ngày càng quan trọng vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và tăng thu ngân sách trên địa bàn[7]. Một số doanh nghiệp chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu, khẳng định vị thế trên thị trường trong và ngoài tỉnh, tạo tiền đề nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỉnh đã chú trọng thúc đẩy hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân có tiềm lực mạnh, từng bước hướng đến xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân với công nghệ hiện đại, quản trị tiên tiến, có khả năng đóng vai trò nòng cốt, mũi nhọn trong phát triển kinh tế của tỉnh. Quan tâm hỗ trợ và tạo điều kiện để đội ngũ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước phát triển bền vững, gắn kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, từng bước hình thành chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất - kinh doanh liên kết. Triển khai đồng bộ nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp gắn với hỗ trợ phát triển doanh nghiệp một cách thực chất, hiệu quả. 

Chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh gắn với mục tiêu chung về nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Các chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX, SIPAS, PAPI) đạt kết quả tích cực, góp phần tạo lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản trị và sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương. Đến nay, toàn tỉnh đã thu hút gần 1.550 dự án tổng vốn gần 530.000 tỷ đồng, (trong đó hơn 1.480 dự án trong nước với tổng mức đầu tư hơn 153.000 tỷ đồng, 71 dự án FDI với tổng mức đầu tư hơn 16,1 tỷ USD). Một số dự án lớn được triển khai trong giai đoạn vừa qua, tạo động lực phát triển mới cho tỉnh[8].

Công tác đổi mới, phát triển doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục được quan tâm, thực hiện theo đúng lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đến nay, 03 doanh nghiệp gồm: Công ty cổ phần Môi trường đô thị Hồng Lĩnh, Công ty cổ phần Môi trường và Công trình đô thị Hà Tĩnh Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh - CTCP nằm trong kế hoạch thoái vốn đã cơ bản hoàn thành xong hồ sơ xác định giá khởi điểm cổ phần chào và phương án chuyển nhượng vốn Nhà nước. Hoàn thành hợp nhất Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thủy lợi Bắc Hà Tĩnh và Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thủy lợi Nam Hà Tĩnh để thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Thủy lợi Hà Tĩnh[9].

3. Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng.

Công tác phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, được tỉnh đặc biệt quan tâm và triển khai gắn chặt với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng bền vững. Tỉnh đã chủ động, kịp thời cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận của Trung ương về đổi mới mô hình tăng trưởng bằng hệ thống chương trình, kế hoạch, đề án đồng bộ, khả thi; trong đó xác định rõ phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động là một trong những trụ cột then chốt, tạo nền tảng quan trọng[10] để nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. 

Triển khai mạnh mẽ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tập trung vào nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, trải nghiệm, từng bước gắn giáo dục với yêu cầu của nền kinh tế tri thức. Hà Tĩnh là một trong những địa phương có chất lượng giáo dục phổ thông và giáo dục mũi nhọn thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh và khu vực. Những năm gần đây, kết quả thi tốt nghiệp THPT nằm ở tốp đầu toàn quốc, năm sau cao hơn năm trước (năm 2023 xếp thứ 10, năm 2024, xếp thứ 7 cả nước; năm 2025 điểm trung bình các môn cao thứ 02 toàn quốc[11]). Giáo dục mũi nhọn tiếp tục giữ vững thành tích: Từ năm 2017 đến năm 2024 có 655 học sinh giỏi Quốc gia (trong đó: 29 giải Nhất, 204 giải Nhì, 239 giải Ba, 183 giải Khuyến khích); 06 học sinh đạt huy chương trong các kỳ thi Olympic quốc tế (04 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc). 

Công tác giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS, THPT có những chuyển biến tích cực, hàng năm, tỷ lệ học sinh vào THPT công lập chiếm 72%-74%; góp phần từng bước điều chỉnh cơ cấu lao động. Giáo dục nghề nghiệp từng bước gắn đào tạo với nhu cầu thực tế, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo, góp phần nâng cao năng suất lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 53% năm 2017 lên 80% năm 2025. Chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, gắn với giải quyết việc làm, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho hơn 23.000 người, vượt chỉ tiêu đề ra.

Hệ thống giáo dục nghề nghiệp từng bước điều chỉnh ngành nghề đào tạo theo nhu cầu của các khu công nghiệp, doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp công nghệ. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các ngành ưu tiên như công nghiệp, dịch vụ, du lịch, công nghệ thông tin. Đẩy mạnh liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp; chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành, kỹ năng số, kỹ năng quản trị.

Tuy nhiên, còn một số tồn tại, hạn chế: Quy mô trường lớp tại một số địa bàn còn chưa hợp lý; tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn xảy ra. Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học tại một số trường chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ cấu trình độ đào tạo chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; tỷ lệ đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng còn thấp so với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao.

Để khắc phục các tồn tại, hạn chế, phát huy các kết quả đạt được, thời gian tới, Tỉnh tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chính trị, tư tưởng cho học sinh, sinh viên; thực hiện có hiệu quả Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và các chương trình giáo dục. Tăng cường gắn kết giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp với nhu cầu phát triển các ngành, lĩnh vực ưu tiên, chủ lực của tỉnh; chú trọng đào tạo kỹ năng, năng lực thực hành, tác phong công nghiệp và khả năng thích ứng với công nghệ mới, qua đó góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững. Quan tâm công tác sắp xếp, nâng cao năng lực tổ chức bộ máy, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo dạy nghề đảm bảo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề. Đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế và xã hội hóa trong đào tạo nghề.

4. Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại.

Bên cạnh việc ưu tiên nguồn vốn ngân sách Nhà nước tập trung đầu tư vào các công trình thiết yếu, quan trọng và có tính lan toả lớn để tạo tiền đề thu hút nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách, tỉnh tập trung huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, bảo đảm lợi ích hợp lý để thu hút các nhà đầu tư, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016-2025 đạt trên 393.000 tỷ đồng, tăng 26% so với giai đoạn 2006-2015. Nhiều dự án lớn, trọng điểm, liên vùng được đầu tư hoàn thành đã có tác động lan tỏa, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng đã triển khai đầu tư hoàn thành và đưa vào khai thác[12].Kết quả cụ thể trên một số lĩnh vực như sau: 

Triển khai các tuyến giao thông trọng điểm, hình thành các trục phát triển gồm trục ven biển gắn với Quốc lộ 1, cao tốc Bắc Nam và đường ven biển; trục dọc Quốc lộ 8 từ thị xã Hồng Lĩnh đến Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo; hành lang kinh tế trung du và miền núi phía Tây gắn với đường Hồ Chí Minh[13].

Hạ tầng Khu kinh tế Vũng Áng được tập trung đầu tư, từng bước hoàn thiện đồng bộ. Giai đoạn 2021-2025, khởi công mới hơn 100 dự án đầu tư công với tổng mức đầu tư gần 5.500 tỷ đồng để phát triển hạ tầng KKT Vũng Áng[14]; thu hút các dự án hạ tầng xã hội như khu dân cư đô thị, khu nhà ở cho công nhân, người lao động... góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách[15].

Hạ tầng số được đầu tư, nâng cấp, cơ bản đáp ứng yêu cầu. Mạng viễn thông di động 4G phủ sóng đến 99,8% khu dân cư, hạ tầng Internet cáp quang sẵn sàng kết nối đến 100% khu vực trung tâm thôn, hệ thống truyền thanh được quan tâm nâng cấp. 100% cán bộ, công chức có máy tính cá nhân, kết nối mạng LAN và Internet băng rộng. Trên 21.000 km cáp quang nội tỉnh, 3.250 trạm BTS (3G, 4G) phủ sóng 99% khu vực dân cư. Hệ thống hội nghị trực tuyến được triển khai vận hành hiệu quả. 

Hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu tiếp tục được hoàn thiện. Trong giai đoạn đã đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa 92 công trình thủy lợi quy mô gần 500 tỷ đồng; kiên cố hóa 407 km kênh mương các loại kinh phí 265 tỷ đồng; đầu tư lắp đặt hệ thống tưới tiên tiến tiết kiệm nước cho 908 ha kinh phí 54,48 tỷ đồng; củng cố, nâng cấp 41,5km đê với tổng kinh phí hơn 845 tỷ đồng và 29km kè với tổng kinh phí là 916 tỷ đồng. Tăng cường chuyển đổi số trong quản lý hạ tầng thủy lợi, điều hành ứng phó biến đổi khí hậu[16].

Hạ tầng bảo vệ môi trường được quan tâm đầu tư. Phê duyệt Đề án thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; đưa vào hoạt động 02 lò đốt xử lý rác thải và hiện đang triển khai đẩy nhanh tiến độ đầu tư nhà máy điện rác tại xã Hồng Lộc với tổng công suất xử lý rác 950 tấn rác/ngày đêm. Trong 03 KCN đang hoạt động trên địa bàn tỉnh hiện có 03/03 KCN (đạt 100%) đã xây dựng hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung. Đối với các CCN, đang đầu tư 01 hệ thống xử lý nước thải tập trung tại CCN Bắc Cẩm Xuyên do Nhà nước làm chủ đầu tư. Tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường đạt 7,9%; xây dựng 17 mô hình xử lý nước thải sinh hoạt nông thôn tập trung.

Hạ tầng nước sạch đô thị, nông thôn cơ bản đáp ứng yêu cầu. Toàn tỉnh có 03 đơn vị được giao quản lý, vận hành và khai thác công trình cấp nước đô thị với 15 nhà máy có tổng công suất 120.500 m3/ngày đêm; tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sạch ở đô thị đạt 86,9%. Từ 2020 đến nay nâng cấp, sửa chữa, mở rộng mạng lưới và xây dựng mới 35 công trình cấp nước tập trung gần 1.200 tỷ đồng; tỷ lệ dân cư sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung đạt hơn 41%.

Nhìn chung, công tác huy động nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực; từng bước hình thành hệ thống hạ tầng tương đối đồng bộ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương và bảo đảm an sinh xã hội. Nhiều công trình, dự án trọng điểm được triển khai, hoàn thành và đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả, tạo động lực lan tỏa cho phát triển các ngành, lĩnh vực và các vùng trong tỉnh.

Tuy vậy, việc huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư vẫn còn một số tồn tại, hạn chế: Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư trong khi nhu cầu phát triển hạ tầng ngày càng lớn; việc thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách, nhất là đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP), vốn ODA, vốn xã hội hóa còn gặp khó khăn; tiến độ triển khai một số dự án chậm, công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng và phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có lúc chưa đồng bộ; hiệu quả đầu tư ở một số công trình chưa thực sự tương xứng với nguồn lực bỏ ra.

Trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục đổi mới tư duy và cách thức huy động nguồn lực theo hướng đa dạng hóa, bền vững; tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển hạ tầng; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, lựa chọn danh mục dự án trọng điểm, có tính kết nối và lan tỏa cao; đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư công, đẩy nhanh tiến độ giải ngân gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Bên cạnh đó, cần chú trọng cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về đất đai, giải phóng mặt bằng, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, qua đó huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn.

II. TỔNG KẾT VIỆC BAN HÀNH VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH RIÊNG THUỘC THẨM QUYỀN CỦA TỈNH ĐỂ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH TẠI NGHỊ QUYẾT SỐ 05-NQ/TW 

Thực hiện các nghị quyết của Trung ương và của tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã tập trung rà soát, sắp xếp, tích hợp và ban hành hệ thống cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền riêng của tỉnh theo hướng bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng cân đối ngân sách địa phương. Giai đoạn 2021-2025, trên cơ sở kế thừa và tích hợp các chính sách của giai đoạn trước, tỉnh đã triển khai thực hiện 46 cơ chế, chính sách thuộc 11 nhóm lĩnh vực trọng tâm, tập trung vào nông nghiệp, nông thôn mới, phát triển đô thị, giáo dục - đào tạo, y tế, an sinh xã hội và một số lĩnh vực đặc thù khác. Tổng nguồn lực ngân sách các cấp bố trí để thực hiện các cơ chế, chính sách trong giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 9.667 tỷ đồng; trong đó ngân sách tỉnh và ngân sách cấp huyện, cấp xã giữ vai trò chủ đạo, đồng thời lồng ghép, huy động các nguồn lực hợp pháp ngoài ngân sách để cùng thực hiện các mục tiêu phát triển. Cụ thể, các cơ chế, chính sách trên một số lĩnh vực nổi bật như sau:

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn mới: 

Các chính sách theo Nghị quyết số 44/2021/NQ-HĐND ngày 16/12/2021 về hỗ trợ xây dựng tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới và Nghị quyết số 51/2021/NQ-HĐND ngày 16/12/2021 về khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn đã góp phần quan trọng hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông thôn, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Các chính sách tập trung hỗ trợ đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, khu dân cư kiểu mẫu; phát triển sản phẩm OCOP; hình thành các mô hình sản xuất hữu cơ, tuần hoàn, liên kết chuỗi giá trị, tạo nền tảng để tỉnh hoàn thành mục tiêu tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. 

Trong lĩnh vực phát triển đô thị: Các cơ chế, chính sách đặc thù theo Nghị quyết số 36/2021/NQ-HĐND (đối với thành phố Hà Tĩnh), Nghị quyết số 62/2021/NQ-HĐND (đối với thị xã Kỳ Anh) và Nghị quyết số 63/2021/NQ-HĐND (đối với thị xã Hồng Lĩnh) đã tạo nguồn lực quan trọng để đầu tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng đô thị, chỉnh trang đô thị, nâng cao chất lượng các tiêu chí đô thị. Nhờ đó, diện mạo đô thị của các địa phương có nhiều chuyển biến rõ nét, hạ tầng giao thông, môi trường, các công trình văn hóa - xã hội từng bước được đầu tư đồng bộ, góp phần thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ và nâng cao đời sống Nhân dân. 

Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo: Chính sách theo Nghị quyết số 92/2022/NQ-HĐND về giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và Đề án xây dựng xã hội học tập đã được triển khai đồng bộ, với tỷ lệ giải ngân đạt 100%. Các chính sách hỗ trợ học sinh giỏi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đã phát huy hiệu quả rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, khuyến khích phong trào dạy tốt, học tốt và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh. 

Trong lĩnh vực y tế: Các chính sách theo Nghị quyết số 71/2022/NQ-HĐND đã tạo chuyển biến tích cực trong việc thu hút, đào tạo và giữ chân đội ngũ bác sĩ, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở y tế công lập. Việc triển khai chính sách góp phần nâng tỷ lệ bác sĩ trên vạn dân, mở rộng quy mô giường bệnh, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển y tế trong giai đoạn mới. 

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng và triển khai hệ thống cơ chế, chính sách giai đoạn 2021-2025 vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập: Tỷ lệ giải ngân ở một số chính sách còn thấp, tiến độ thực hiện chậm; một số nội dung chính sách khó tiếp cận do thủ tục phức tạp, điều kiện hỗ trợ cao, chưa phù hợp với năng lực của người dân và doanh nghiệp, nhất là ở khu vực nông thôn[17]; Việc phân bổ kế hoạch chi tiết theo từng nội dung chưa linh hoạt, chưa cho phép điều chỉnh giữa các nội dung, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực[18]; Một số nội dung hỗ trợ từ nguồn thu tiền sử dụng đất, nguồn vượt thu ngân sách chưa phát huy hiệu quả do nguồn thu phát sinh thấp hoặc không ổn định; một số dự án hạ tầng đô thị trọng điểm chậm triển khai do vướng mắc giải phóng mặt bằng và khó khăn của thị trường bất động sản[19]. Đề án phát triển kỹ thuật cao, chuyên sâu[20] chưa giải ngân được nguồn kinh phí đã bố trí; việc mua sắm trang thiết bị y tế và triển khai các kỹ thuật chuyên sâu còn gặp nhiều vướng mắc về cơ chế, thủ tục. Một số chính sách sau khi ban hành chưa được đánh giá, điều chỉnh kịp thời để tháo gỡ vướng mắc phát sinh, làm hạn chế hiệu quả thực hiện so với mục tiêu đề ra.

Nhìn chung, hệ thống cơ chế, chính sách của tỉnh, đặc biệt trong giai đoạn 2021-2025, đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, song cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng chính sách theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và bền vững. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để tỉnh tiếp tục rà soát, sắp xếp, tích hợp và xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách cho giai đoạn 2026 -2030, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

III. TỔNG KẾT SÂU VIỆC TRIỂN KHAI CÁC QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VỀ BA ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC

1. Kết quả thực hiện

1.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh đã từng bước được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội. Việc xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách không chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh tế mà còn được mở rộng sang các lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ, tài nguyên và môi trường, đảm bảo tính toàn diện và bền vững. Nhiều chủ trương, chính sách lớn của tỉnh đã được triển khai hiệu quả trên thực tế, tạo chuyển biến tích cực trong quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội. 

Giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 12 năm 2025, tỉnh Hà Tĩnh đã chủ động ban hành hệ thống cơ chế, chính sách trên tất cả các lĩnh vực.  Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành 102 nghị quyết. Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành 262 quyết định quy phạm pháp luật. Các chính sách tập trung vào huy động nguồn lực, quản lý đầu tư, hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó có các chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết Trung ương[21], các đề án, kế hoạch cơ cấu lại ngành, lĩnh vực[22] góp phần hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

1.2. Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại gắn với cơ cấu lại đầu tư công

Tỉnh tập trung cơ cấu lại đầu tư công theo hướng hiệu quả, trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các công trình thiết yếu, có tính kết nối và lan tỏa. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021-2025 ước đạt 233.488 tỷ đồng, tăng 46% so với giai đoạn 2016-2020. Các tồn đọng kéo dài, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng[23] được tập trung xử lý. Cơ cấu vốn đầu tư công dịch chuyển phù hợp với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và an sinh xã hội, giữa các ngành, lĩnh vực và các địa phương. Các dự án trọng điểm, liên vùng được đầu tư hoàn thành đã có tác động lan tỏa, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xúc tiến và thu hút đầu tư[24], thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, giải quyết việc làm và tăng thu ngân sách[25]

1.3. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập

Việc phát triển nguồn nhân lực được triển khai gắn với lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tỉnh chú trọng quy hoạch lại hệ thống trường lớp, đầu tư cơ sở vật chất theo hướng chuẩn hóa, mở rộng xã hội hóa giáo dục và đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Chất lượng giáo dục toàn diện tiếp tục được nâng cao, giáo dục mũi nhọn được giữ vững, củng cố. Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình lớp học hàng năm đạt trên 99%; điểm trung bình tốt nghiệp THPT tăng qua các năm, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước[26]. Công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS được thực hiện khá tốt, tỷ lệ học sinh vào THPT công lập hàng năm chiếm 72-74%.

Giáo dục nghề nghiệp từng bước được đổi mới, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động và yêu cầu của doanh nghiệp. Chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và lao động đặc thù, gắn với giải quyết việc làm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 53% năm 2017 lên 80% năm 2025; bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho hơn 23.000 người, vượt chỉ tiêu đề ra, góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực.

2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện ba đột phá chiến lược theo Nghị quyết số 05-NQ/TW vẫn còn một số hạn chế: Hệ thống pháp luật, nhất là lĩnh vực đất đai, còn chồng chéo, thiếu thống nhất; công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng chậm điều chỉnh, thiếu tính liên kết. Nhu cầu vốn đầu tư, đặc biệt cho kết cấu hạ tầng giao thông rất lớn trong khi nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn hạn chế, thu hút vốn ngoài ngân sách và huy động từ dân cư chưa đạt kỳ vọng; hạ tầng giao thông, đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ, tỷ lệ lấp đầy còn thấp; đô thị hóa diễn ra chậm; công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc. Nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; cơ cấu lao động còn thiếu hợp lý, nhất là lao động tay nghề cao. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo có lúc chưa thật quyết liệt; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa chặt chẽ; một bộ phận cán bộ, công chức còn tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý và điều hành. 

IV. VỀ CƠ CẤU LẠI CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VÀ XÁC ĐỊNH CÁC LĨNH VỰC, NGÀNH, SẢN PHẨM ƯU TIÊN, CHỦ LỰC CỦA ĐỊA PHƯƠNG 

1. Cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực

Thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW và các nghị quyết, chương trình hành động của Trung ương, tỉnh Hà Tĩnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Việc cơ cấu lại được triển khai đồng bộ trên cả ba khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, gắn với khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương và định hướng phát triển theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

1.1. Cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

Tỉnh đẩy mạnh cơ cấu lại theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hoá tập trung, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững theo tinh thần Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 và Quyết định số 255/QĐ-TTg ngày 25 tháng 02 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về cơ cấu lại ngành nông nghiệp; đồng thời cụ thể hóa bằng các nghị quyết, đề án của tỉnh gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới[27].

Cơ cấu sản xuất chuyển dịch tích cực theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, phát huy lợi thế của từng vùng, từng địa phương, gắn với nhu cầu thị trường và liên kết chuỗi giá trị. Tỷ trọng nhóm sản phẩm chủ lực có lợi thế tăng từ 30,4% năm 2015 lên 46% năm 2020 và 55% năm 2025. Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt bình quân trên 2%/ năm; giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt trên 3,2%/năm. Trồng trọt tập trung vào các cây trồng chủ lực như lúa hàng hóa chất lượng cao, cây ăn quả (cam, bưởi), rau củ quả và các sản phẩm nông nghiệp đặc sản. Chăn nuôi chuyển mạnh sang mô hình trang trại, gia trại tập trung, an toàn sinh học, chiếm khoảng 53% cơ cấu nội ngành. Lâm nghiệp được cơ cấu lại theo hướng phát triển rừng trồng gỗ lớn, gắn với chế biến sâu, sản lượng gỗ nguyên liệu tăng nhanh qua các năm[28]. Thủy sản chuyển dịch từ nuôi nhỏ lẻ sang doanh nghiệp, hợp tác xã, mở rộng nuôi trồng thủy sản tập trung, gắn với kiểm soát khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU); đến nay không có tàu cá, ngư dân vi phạm khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài; 100% tàu cá được đăng ký, cập nhật dữ liệu và đánh dấu theo quy định.

Xây dựng nông thôn mới tiếp tục được tập trung chỉ đạo, đạt được kết quả quan trọng; hoàn thành 8/8 yêu cầu tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 321/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên. Xây dựng đô thị văn minh đạt kết quả tích cực, 100% phường, thị trấn và 3 thành phố, thị xã đạt chuẩn đô thị văn minh. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tạo ra một số sản phẩm chất lượng, có thương hiệu[29].

1.2. Cơ cấu lại ngành công nghiệp

Tỉnh tập trung cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng giảm dần tỷ trọng khai khoáng, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và năng lượng, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về chính sách phát triển công nghiệp quốc gia và các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy[30]. Công nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 29,7%, giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 6,8%/năm. Cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện ngày càng tăng. Tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế năm 2025 ước đạt 33,6%[31]. Nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn, trọng điểm đi vào hoạt động hiệu quả, như: Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I - II, các dự án năng lượng tái tạo, chế biến gỗ, dệt may, sản xuất pin và ô tô điện… góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tăng thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu. Hạ tầng Khu kinh tế Vũng Áng được tập trung đầu tư theo các nghị quyết của Chính phủ và Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ, từng bước khẳng định vai trò trung tâm công nghiệp động lực của tỉnh. Các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp từng bước được đầu tư hoàn thiện; toàn tỉnh hiện có 07 khu công nghiệp và 24 cụm công nghiệp, tạo không gian phát triển công nghiệp tập trung, có điều kiện thu hút các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường.

1.3. Cơ cấu lại ngành dịch vụ

Tỉnh thực hiện cơ cấu lại ngành dịch vụ theo định hướng tại Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế và các nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển thương mại, dịch vụ, logistics và du lịch[32]. Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ giai đoạn 2016-2020 đạt bình quân 3,7%/năm; giai đoạn 2021-2025 ước đạt 6,7%/năm; tỷ trọng dịch vụ trong GRDP tăng lên khoảng 45,8% vào năm 2025. Thương mại, xuất nhập khẩu, logistics phát triển khá; kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2021-2025 ước đạt khoảng 11 tỷ USD, tăng gần 3 lần so với giai đoạn 2016-2020, riêng năm 2025 ước đạt 2,5 tỷ USD, tăng gấp 8,5 lần so với năm 2017.

Du lịch từng bước phục hồi và phát triển theo các đề án, chương trình của tỉnh, gắn với khai thác tiềm năng du lịch biển, sinh thái, văn hóa - lịch sử; Lượng khách và doanh thu du lịch tăng qua các năm[33], góp phần chuyển dịch cơ cấu dịch vụ. Hạ tầng thương mại, dịch vụ, du lịch được quan tâm đầu tư theo hướng hiện đại. Thu hút xã hội hóa đầu tư đạt kết quả tích cực; một số trung tâm thương mại, dịch vụ quy mô lớn đi vào hoạt động. Hệ thống phân phối và cửa hàng kinh doanh xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng đáp ứng nhu cầu sử dụng. Các dịch vụ tài chính - ngân hàng, giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả điều hành kinh tế - xã hội.

2. Xác định các ngành, sản phẩm ưu tiên, chủ lực của địa phương

Trên cơ sở kết quả cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực và định hướng tại Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh đã xác định rõ các ngành, lĩnh vực và sản phẩm ưu tiên, chủ lực để tập trung nguồn lực đầu tư, phù hợp với mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TW và các nghị quyết chuyên đề của Trung ương.

Trong lĩnh vực công nghiệp, tỉnh xác định công nghiệp luyện kim, năng lượng và công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với Khu kinh tế Vũng Áng là trụ cột tăng trưởng quan trọng nhất, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 03/11/2022 của BCH Trung ương và các quy hoạch ngành quốc gia. Các sản phẩm chủ lực như thép, điện năng và các sản phẩm sau thép hiện đóng góp khoảng 25% GRDP của tỉnh; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tập trung chủ yếu trong các ngành này, đã nâng tỷ trọng đóng góp vào GRDP từ 8,92% năm 2017 lên trên 23% vào năm 2025. Các dự án công nghiệp quy mô lớn tạo nguồn thu ngân sách ổn định, thúc đẩy xuất khẩu và giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, tỉnh xác định nhóm sản phẩm nông - lâm -thủy sản chủ lực theo định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp và Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) được triển khai theo Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ. Các sản phẩm ưu tiên gồm lúa hàng hóa chất lượng cao, cây ăn quả có múi, sản phẩm chăn nuôi tập trung, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản nuôi trồng. Công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản được xác định là khâu then chốt để nâng cao giá trị gia tăng, tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Trong lĩnh vực dịch vụ, tỉnh xác định logistics, thương mại, xuất nhập khẩu và du lịch là các ngành dịch vụ ưu tiên, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế biển theo Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của BCH Trung ương Đảng khóa XII. Phát huy tối đa lợi thế hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương cùng với các tuyến giao thông chiến lược tạo điều kiện để tỉnh từng bước hình thành trung tâm logistics của khu vực Bắc Trung Bộ. Du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - lịch sử được định hướng phát triển thành các sản phẩm du lịch đặc trưng, có khả năng lan tỏa và đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng khu vực dịch vụ.

Việc xác định rõ các ngành, sản phẩm ưu tiên, chủ lực trên cơ sở các nghị quyết, chương trình và quy hoạch của Trung ương và địa phương đã giúp tỉnh tập trung nguồn lực, thu hút đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; tạo nền tảng quan trọng để tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

V. THÚC ĐẨY LIÊN KẾT VÙNG VÀ NỘI VÙNG, TĂNG CƯỜNG PHỐI HỢP GIỮA HÀ TĨNH VÀ CÁC ĐỊA PHƯƠNG TRONG XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI CÁC CHƯƠNG TRÌNH, ĐỀ ÁN, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI; ĐẨY MẠNH PHỐI HỢP BAN HÀNH VÀ THỰC THI CÁC CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ, XÚC TIẾN ĐẦU TƯ, ƯU TIÊN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC CÓ TIỀM NĂNG VÀ LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA TỈNH HÀ TĨNH VÀ TOÀN VÙNG BẮC TRUNG BỘ

1. Công tác quy hoạch

Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 08/11/2022, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội và thu hút đầu tư trên địa bàn.

Hiện nay, quy hoạch vùng và các quy hoạch cấp quốc gia đã được phê duyệt và đang tổ chức điều chỉnh; đồng thời, việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống còn 34 đơn vị, triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, không còn địa giới hành chính cấp huyện và có sự thay đổi địa giới hành chính cấp xã; Kết luận số 199-KL/TW ngày 10/10/2025 của Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, đã đặt ra yêu cầu mới đối với các quy hoạch. Trên cơ sở đó, tỉnh đang tổ chức rà soát, điều chỉnh Quy hoạch tỉnh và các quy hoạch liên quan nhằm bảo đảm sự phù hợp, thống nhất và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới.

2. Thúc đẩy liên kết vùng

Hà Tĩnh chủ động triển khai các chủ trương, kế hoạch thực hiện liên kết vùng Bắc Trung Bộ, tăng cường phối hợp với các tỉnh trong vùng và các địa phương lân cận trên nhiều lĩnh vực, nhất là quy hoạch, phát triển hạ tầng, xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch và bảo đảm quốc phòng - an ninh. Nội dung liên kết vùng được lồng ghép trong quá trình xây dựng, điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, bảo đảm tính đồng bộ, kết nối không gian phát triển với vùng Bắc Trung Bộ và cả nước.

Liên kết vùng được thúc đẩy thông qua hợp tác phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trọng điểm, nhất là các trục kết nối Bắc - Nam, hành lang kinh tế Đông - Tây, hạ tầng cảng biển, logistics và hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp. Hoạt động liên kết trong phát triển du lịch, văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực, y tế, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai từng bước được tăng cường, góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế chung của toàn vùng.

Tỉnh tăng cường hợp tác với các tỉnh thuộc Hiệp hội 9 tỉnh, 03 nước Việt Nam - Lào - Thái Lan có sử dụng tuyến đường 8, đường 12. Đẩy mạnh liên kết đào tạo, sử dụng lao động với các tỉnh Bắc Trung Bộ và các trung tâm kinh tế lớn. Phối hợp xây dựng các chương trình đào tạo gắn với nhu cầu nhân lực vùng, phục vụ thu hút đầu tư liên vùng. Triển khai hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 03/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ[34]. Ký kết hợp tác phát triển với các địa phương như Thanh Hóa, Nghệ An, Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố khác. Thường xuyên trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác quy hoạch, xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch.

3. Công tác xúc tiến và thu hút đầu tư

Công tác cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được tập trung đẩy mạnh gắn với cải cách hành chính, nâng cao chất lượng điều hành và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Hoạt động xúc tiến đầu tư được đổi mới theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, tăng cường liên kết vùng trong tiếp cận, mời gọi các nhà đầu tư chiến lược. Tập trung ưu tiên thu hút đầu tư vào các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh như: công nghiệp luyện kim, năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo; dịch vụ cảng biển và dịch vụ logistics; nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hàng hóa; du lịch, dịch vụ và kinh tế biển. 

Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư theo hướng có chọn lọc, ưu tiên thu hút các dự án quy mô lớn, chất lượng cao, có giá trị gia tăng lớn, ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại và thân thiện với môi trường. Các hoạt động xúc tiến được triển khai chủ động tại một số thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Canada, Thái Lan, Hoa Kỳ và các nước châu Âu; đồng thời đẩy mạnh công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế gắn với xúc tiến đầu tư, góp phần quảng bá hiệu quả tiềm năng, lợi thế và cơ hội đầu tư của tỉnh.

VI. HUY ĐỘNG ĐA DẠNG CÁC NGUỒN LỰC VÀ TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH THU HÚT MẠNH MẼ CÁC NGUỒN LỰC XÃ HỘI CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH, TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Tỉnh chú trọng hoàn thiện thể chế, ban hành và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; phát huy vai trò “vốn mồi” của đầu tư công, qua đó từng bước khơi thông và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế - xã hội.

Hoạt động thu hút đầu tư tiếp tục có bước tiến rõ nét, trọng tâm là Khu kinh tế Vũng Áng, từng bước khẳng định vai trò cực tăng trưởng của tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ. Nhiều dự án trọng điểm, quy mô lớn được triển khai, như: Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II (1.200 MW) và các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và logistics; qua đó hình thành tổ hợp công nghiệp - năng lượng - cảng biển - logistics gắn với cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương. Khu vực FDI đóng góp khoảng 25% GRDP, trở thành một trong những nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Kinh tế tư nhân phát triển khá, giai đoạn 2021-2025 có gần 6.500 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 2,3 lần so với giai đoạn 2016-2020, góp phần huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm và tăng thu ngân sách. Việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh được triển khai đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.

Ưu tiên nguồn lực phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng, trọng tâm là hạ tầng Khu kinh tế Vũng Áng và các khu, cụm công nghiệp; đồng thời quan tâm đầu tư phát triển tương xứng các hạ tầng văn hóa, thể thao, y tế, giáo dục, an sinh xã hội. Hạ tầng công nghệ thông tin và hạ tầng số được đẩy mạnh đầu tư, tạo nền tảng thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số; hạ tầng thủy lợi, hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu tiếp tục được quan tâm đầu tư theo hướng đa mục tiêu, góp phần nâng cao khả năng thích ứng và phát triển bền vững. 

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác huy động và sử dụng các nguồn lực xã hội cho phát triển vẫn còn những hạn chế: cơ cấu nguồn vốn đầu tư còn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI; hiệu quả huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, nhất là đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP), vốn ODA và vốn xã hội hóa chưa tương xứng với tiềm năng; một số dự án triển khai chậm, hiệu quả đầu tư chưa cao; việc kết nối, lan tỏa giữa các khu vực kinh tế còn hạn chế; khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp trong nước chưa đồng đều.

Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục đổi mới tư duy và phương thức huy động nguồn lực theo hướng đa dạng hóa, bền vững; hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư phát triển; nâng cao hiệu quả sử dụng đầu tư công theo hướng tập trung, trọng điểm, phát huy tốt vai trò dẫn dắt, lan tỏa. Đồng thời, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư; đẩy nhanh tiến độ giải ngân gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, tháo gỡ kịp thời các vướng mắc về đất đai, giải phóng mặt bằng, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, qua đó huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Trên đây là Báo cáo Tổng kết sâu tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 01/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, Tỉnh ủy Hà Tĩnh báo cáo Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.


 


[1] Như: mô hình biệt thự, condotel tại Vinpearl Cửa Sót, Hoa Tiên Paradise Xuân Thành; mô hình homestay, du lịch cộng đồng tại KDL Thiên Cầm, thôn Phong Giang.

[2] Như: mô hình nông nghiệp tuần hoàn, hữu cơ của Tập đoàn Quế Lâm; mô hình liên kết trồng dứa (cung ứng giống, hỗ trợ kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm) của Công ty CP Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao.

[3] Các mô hình liên kết với Tập đoàn Quế Lâm 

[4] Chương trình hành động số 42-CTr/TU ngày 14/02/2025 của Tỉnh uỷ về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; Kế hoạch số 231/KH-UBND ngày 10/5/2025 của UBND tỉnh triển khai thực hiện Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ và Chương trình hành động số 42-CTr/TU của Tỉnh ủy; Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 22/10/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chuyển đổi số tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030; Chương trình hành động số 29-CTr/TU ngày 04/7/2023 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/01/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới; Kế hoạch số 243- KH/TU ngày 22/3/2024 của Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 69-KL/TW ngày 11/01/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW; Kế hoạch số 482/KH-UBND ngày 03/11/2023 của UBND tỉnh thực hiện chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2030; Nghị quyết số 95/2022/NQ-HĐND ngày 16/12/2022 về một số chính sách phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025…

[5] Ngày 19/6/2025, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hà Tĩnh chủ trì tổ chức hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức và năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác quản lý hành chính Nhà nước cho hơn 150 cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh; Ngày 09 và 10 tháng 9 năm 2025, Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc tập huấn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho cán bộ các cấp ủy và cơ quan Đảng; Hội nghị được kết nối trực tuyến đến điểm cầu các cơ quan Đảng, MTTQ tỉnh và 69 xã, phường trong toàn tỉnh.

[6] Chương trình số 46-CTr/TU ngày 03/7/2025 của BTV Tỉnh uỷ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 198-NQ/TW của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân; Kế hoạch số 366/KH-UBND ngày 03/7/2025 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Nghị quyết số 138/NQ-CP, Nghị quyết số 139/NQ-CP của Chính phủ và Chương trình hành động số 46-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

[7] Hiện trên địa bàn tỉnh có khoảng 13.000 doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 60% GRDP và 65% thu ngân sách toàn tỉnh, giải quyết việc làm cho 98.000 lao động.

[8] Như: Tổ máy số 1 Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã chính thức vận hành thương mại vào tháng 7/2025. Nhà máy sản xuất pack pin VINES đã hoàn thành việc nâng công suất dây chuyền sản xuất số 2 (nâng công suất từ 100 nghìn pack/năm lên 230 nghìn pack/năm), hiện đang tiến hành sản xuất thử. Nhà máy sản xuất ô tô điện VinFast chính thức khánh thành, đi vào hoạt động tháng 6/2025. KCN Vinhomes Vũng Áng đã khởi công tháng 8/2025. KCN VSIP (Bắc Thạch Hà giai đoạn 1) đang trong giai đoạn san lấp mặt bằng. KCN Gia Lách mở rộng tiếp tục tập trung công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.

[9] Tại Quyết định số 2777/QĐ-UBND ngày 07/11/2025 UBND tỉnh Hà Tĩnh.

[10] Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 72/2017/NQ-HĐND ngày 13/12/2017 quy định một số chính sách khuyến khích phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Hà Tĩnh; UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2586/QĐ-UBND ngày 19/12/2022 về danh mục ngành nghề cần đào tạo, thu hút và hỗ trợ sau tuyển dụng của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2022 - 2025…

[11] Điểm trung bình các môn thi: 6,54 (Xếp thứ 02 toàn quốc); Số lượng bài thi đạt điểm 10: 341.

[12] Như: Nhà máy thép Formosa; Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I; Nhà máy Bia Sài Gòn - Hà Tĩnh công suất 50 triệu lít/năm; Nhà máy Sợi Hồng Lĩnh; Trung tâm Thương mại, Văn phòng và nhà ở Vincom Hà Tĩnh; tổ hợp khu đô thị, tổ hợp biệt thự nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí Vinpearl Cửa Sót; các cầu cảng tại cảng Vũng Áng; Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đã vận hành thương mại Tổ máy số 1 và dự kiến Tổ máy số 2 vận hành vào cuối năm 2025 ; Nhà máy sản xuất ô tô điện Vinfast đã khánh thành giai đoạn 1 công suất 200.000 xe/năm…

[13] Như: Cao tốc Bắc - Nam, cầu Cửa Hội bắc qua sông Lam, đường ven biển, đường Hàm Nghi kéo dài phía Tây, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh kéo dài phía Đông...

[14] 04 dự án do BQLDA đầu tư xây dựng khu vực Khu kinh tế tỉnh làm chủ đầu tư với tổng mức gần 2.600 tỷ đồng và gần 100 dự án do UBND thị xã Kỳ Anh làm chủ đầu tư.

[15] Khu kinh tế Vũng Áng đóng góp khoảng 25% tăng trưởng GRDP, hơn 95% kim ngạch xuất nhập khẩu, 60% tổng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho hơn 20.000 lao động; một số sản phẩm công nghiệp chủ lực như thép đóng góp 18% sản lượng cả nước, điện đóng góp hơn 3% sản lượng cả nước.

[16] Đưa vào vận hành các phần mềm cập nhập lượng mưa tự động, hệ thống giám sát thiên tai, hệ thống giám sát ngập lụt...

[17] Chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị quyết số 51/2021/NQ-HĐND

[18] Chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 44/2021/NQ-HĐND

[19] Việc triển khai các chính sách phát triển đô thị theo Nghị quyết số 36/2021/NQ-HĐND, 62/2021/NQ-HĐND và 63/2021/NQ-HĐND đạt tỷ lệ giải ngân cao; tuy nhiên, tại một số địa phương, nguồn lực hỗ trợ chưa được bảo đảm do nguồn thu từ đất phát sinh thấp hoặc chưa phát sinh. Cụ thể, Đề án phát triển quỹ đất trên địa bàn thị xã Kỳ Anh đến nay chưa triển khai thực hiện, nên chưa tạo nguồn thu tiền sử dụng đất để hỗ trợ theo cơ chế đã ban hành; tại thị xã Hồng Lĩnh, thu ngân sách giai đoạn 2021–2024 thiếu ổn định, một số khoản thu từ đất không phát sinh hoặc phát sinh thấp, dẫn đến nguồn hỗ trợ bổ sung từ vượt thu, tăng thu, tiết kiệm chi và tiền sử dụng đất chưa đáp ứng yêu cầu. Đối với thành phố Hà Tĩnh, một số tuyến giao thông chiến lược có vai trò liên kết vùng và tạo quỹ đất đô thị (đường Xô Viết Nghệ Tĩnh kéo dài, đường Ngô Quyền kéo dài kết nối cao tốc Bắc – Nam) chậm triển khai, chủ yếu do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng tại khu vực dân cư đông đúc và biến động giá đất.

[20] tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh theo Quyết định số 3948/QĐ-UBND

[21] Chương trình hành động số 16-CT/TU ngày 30/9/2022 về thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW. Kế hoạch số 161/KH-UBND ngày 10/5/2023 về thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-CP (Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn).

[22] Quyết định số 786/QĐ-UBND ngày 18/3/2019 phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2019-2020 và những năm tiếp theo. Các kế hoạch chiến lược phát triển chuyên ngành: thủy sản, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy lợi, trồng trọt

[23] Chủ trương chấm dứt dự án mỏ sắt Thạch Khê nhận được sự đồng tình của các bộ, ngành Trung ương; tháo gỡ vướng mắc, khởi công dự án Nhiệt điện Vũng Áng II; GPMB tuyến đường dây 500kV, cao tốc Bắc Nam; KCN Phú Vinh, KCN Hoành Sơn giải quyết cấp đất Tòa Giám mục; các dự án vướng mắc Nghị định 148; các vụ việc tồn đọng, tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo liên quan đến Nhà máy rác Hương Khê, thủy lợi Nam Hà Tĩnh...

[24] Như: Đường cao tốc Bắc - Nam, đường dây 500 kV mạch 3, Đường ven biển Xuân hội - Thạch Khê - Vũng Áng; Đường trục chính trung tâm nối Quốc lộ 1 đoạn tránh thị xã Kỳ Anh đến cụm Cảng nước sâu Vũng Áng, Sơn Dương; Đường từ Quốc lộ 12C đi Khu liên hợp gang thép Formosa; Đường Hàm Nghi kéo dài; Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Hà Tĩnh thuộc dự án BIIG2; Đường vành đai phía Đông giai đoạn 1…

[25] Trên địa bàn các khu kinh tế và khu công nghiệp hiện có 195 dự án đầu tư còn hiệu lực, trong đó: Khu kinh tế Vũng Áng có 153 dự án (98 dự án trong nước với số vốn đăng ký 84.878 tỷ đồng, 55 dự án nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 15,976 tỷ USD); Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu Treo có 27 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 2.073 tỷ đồng và 01 dự án đầu tư nước ngoài có vốn đăng ký 4,88 triệu USD; Khu công nghiệp Gia Lách có 12 dự án trong nước với tổng số vốn đăng ký 1.438 tỷ đồng; KCN Bắc Thạch Hà (giai đoạn 1) có 01 dự án (hạ tầng KCN) với số vốn đầu tư đăng ký 64,81 triệu USD; Khu công nghiệp Gia Lách mở rộng có 01 dự án (hạ tầng KCN) với số vốn đầu tư 2.265 tỷ đồng.

[26] Năm 2023 xếp thứ 10, năm 2024 xếp thứ 7, năm 2025 xếp thứ 2 toàn quốc.

[27] Cụ thể: Chương trình hành động số 478-CTr/TU ngày 19/01/2017 của Tỉnh ủy Hà Tĩnh về thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Kế hoạch số 114/KH-UBND ngày 31/3/2017 của UBND tỉnh thực hiện Chương trình hành động số 478-CTr/TU và Nghị quyết số 27/NQ-CP của Chính phủ; Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Hà Tĩnh theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững (ban hành và điều chỉnh qua các giai đoạn); Các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn (ban hành trong các nhiệm kỳ 2016–2020, 2021–2025). Nghị quyết của Tỉnh ủy Hà Tĩnh về lãnh đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Các quyết định của UBND tỉnh phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới từng giai đoạn (đặc biệt giai đoạn 2021–2025 theo Quyết định số 321/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). Đề án xây dựng tỉnh Hà Tĩnh đạt chuẩn nông thôn mới; Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) trên địa bàn tỉnh.

[28] Từ 290.000 m3 (năm 2015) lên 398.119m3 (năm 2020), và đạt khoảng 775.000 m3 (năm 2025), tăng diện tích được cấp chứng chỉ FSC, VFCS/PEFC; diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững đứng nhóm đầu cả nước, đạt 37.527 ha.

[29] Toàn tỉnh hiện có 297 sản phẩm đạt chuẩn OCOP, trong đó có 279 sản phẩm đạt 3 sao, 18 sản phẩm 4 sao.

[30] Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 18/5/2018 về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2025 và những năm tiếp theo; Kết luận số 57-KL/TU ngày 08/10/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 18/5/2018. Chương trình hành động số 28-CTr/TU ngày 05/5/2023 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ. 

[31] Năm 2017 chiếm 24% đến năm 2024 chiếm 31,76%.

[32] Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 26/5/2022 của BTV Tỉnh ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh xuất khẩu gắn với phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; các Nghị quyết của HĐND tỉnh: số 276/2021/NQ-HĐND ngày 18/4/2021 quy định về chính sách hỗ trợ các hãng tàu biển mở tuyến vận chuyển container và đối tượng có hàng hóa vận chuyển bằng container qua cảng Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh; số 19/2021/NQ-HĐND ngày 17/7/2021 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 276/2021/NQ-HĐND và số 113/2023/NQ-HĐND ngày 08/12/2023 về một số chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics và xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2024 - 2025.

[33] Tổng lượt khách tham quan du lịch giai đoạn 2017-2025 ước đạt 29,5 triệu lượt khách, trong đó có hơn 8,3 triệu lượt khách lưu trú nội địa và 154,3 ngàn lượt khách lưu trú quốc tế.

[34] Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 28-CTr/TU ngày 05/5/2023, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện số 184/KH-UBND ngày 22/5/2023 với 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu.

Tệp đính kèm:

PHULUCKEMBAOCAO.docx

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất