Những quy định mới về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Chính phủ ban hành Nghị định số 300/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Trong đó có nhiều nội dung đáng chú ý về đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện tiếp nhận vào công chức; xếp lương và tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/8/2026

Bổ sung, làm rõ đối tượng được tiếp nhận vào công chức
Nghị định số 300/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 13 Nghị định số 170/2025/NĐ-CP về đối tượng, tiêu chuẩn và điều kiện tiếp nhận vào làm công chức.
Theo quy định mới, căn cứ nhu cầu sử dụng nhân lực đáp ứng ngay yêu cầu công việc, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng xem xét, quyết định tiếp nhận vào làm công chức đối với các nhóm đối tượng gồm: chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc đang công tác ngoài khu vực công lập theo chính sách thu hút người có tài năng; viên chức; người hưởng lương trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức cơ yếu không phải là công chức.
Ngoài ra, các đối tượng được xem xét tiếp nhận còn có người đang giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý từ cấp phòng trở lên tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; người đã từng là cán bộ, công chức được cấp có thẩm quyền quyết định chuyển đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác không phải là cán bộ, công chức; người được tuyển dụng theo chỉ tiêu biên chế làm việc tại các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; đội viên Đề án thí điểm tuyển chọn trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai đoạn 2013-2020 sau khi kết thúc Đề án tiếp tục ký hợp đồng lao động làm việc tại xã.
Yêu cầu có đủ 5 năm công tác đối với một số trường hợp
Theo Nghị định số 300/2026/NĐ-CP, căn cứ tỷ lệ công chức cần bố trí theo từng vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chỉ tiêu biên chế được giao và yêu cầu của vị trí việc làm, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng quyết định tiếp nhận đối với các trường hợp nêu trên khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.
Người được tiếp nhận phải đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký dự tuyển công chức theo khoản 1 Điều 19 Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15; không thuộc các trường hợp không được đăng ký dự tuyển hoặc đang trong thời hạn xử lý, thi hành kỷ luật theo quy định.
Đối với chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc, người được xem xét tiếp nhận phải có kết quả, sản phẩm, công trình, sáng kiến hoặc giải pháp khoa học được ứng dụng thực tế, đem lại hiệu quả rõ rệt, phù hợp và đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận; đồng thời là người có uy tín được cộng đồng khoa học hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành công nhận.
Đáng chú ý, đối với viên chức và một số nhóm đối tượng khác, người được xem xét tiếp nhận phải có ít nhất 5 năm công tác làm công việc có yêu cầu về trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận.
Thời gian công tác được xác định là thời gian liên tục trước khi tiếp nhận, làm công việc phù hợp về trình độ đào tạo, chuyên môn, nghiệp vụ; không tính thời gian tập sự, thử việc (nếu có), có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và được xếp lương tương ứng với công việc ở vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận.
Trường hợp có thời gian công tác tại các vị trí thuộc nhóm đối tượng được quy định hoặc tại vị trí việc làm cán bộ, công chức cấp xã theo quy định trước đây thì được cộng dồn nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Riêng người đã từng là cán bộ, công chức được cấp có thẩm quyền quyết định chuyển đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo yêu cầu nhiệm vụ thì không phải đáp ứng điều kiện về thời gian công tác 5 năm.
Quy định mới về xếp lương khi được tuyển dụng, tiếp nhận vào công chức
Nghị định số 300/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung quy định về xếp lương đối với người được tuyển dụng, tiếp nhận vào làm công chức.
Theo đó, người được tuyển dụng, tiếp nhận vào vị trí việc làm xếp ngạch công chức nào thì được hưởng mức lương khởi điểm của ngạch đó, trừ các trường hợp được quy định cụ thể.
Đối với người được tuyển dụng vào công chức đã có thời gian công tác phù hợp với yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm, có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và được bố trí làm công việc đúng chuyên môn, nghiệp vụ đã đảm nhiệm trước đó, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng căn cứ thời gian công tác để xem xét, quyết định xếp vào bậc lương phù hợp của ngạch công chức tương ứng.
Đối với người được tiếp nhận vào làm công chức, thời gian công tác phù hợp với yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm và có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính làm căn cứ xếp lương ở ngạch công chức tương ứng.
Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội không liên tục nhưng chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần hoặc chưa hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ thì được cộng dồn theo quy định.
Xếp lương khi thay đổi vị trí việc làm
Nghị định mới cũng sửa đổi, bổ sung quy định về xếp lương khi công chức thay đổi vị trí việc làm.
Theo đó, công chức khi chuyển sang vị trí việc làm mới được xếp lương ở ngạch tương ứng với vị trí việc làm. Thời gian hưởng lương ở ngạch công chức tương đương hoặc cao hơn ngạch hiện giữ được tính làm căn cứ xếp lương ở ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm mới.
Đối với trường hợp được bổ nhiệm, bố trí vào vị trí việc làm có ngạch công chức cao hơn về thứ bậc chuyên môn, nghiệp vụ, việc xếp lương được thực hiện căn cứ vào hệ số lương và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đang hưởng để xếp vào hệ số lương bằng hoặc cao hơn gần nhất ở ngạch tương ứng.
Trường hợp tổng hệ số lương và phụ cấp thâm niên vượt khung đang hưởng cao hơn hệ số lương ở bậc cuối cùng của ngạch mới thì được xếp vào bậc cuối cùng và hưởng hệ số chênh lệch bảo lưu theo quy định.
Đối với trường hợp chuyển sang vị trí việc làm có ngạch công chức cùng thứ bậc chuyên môn, nghiệp vụ hoặc thấp hơn ngạch hiện giữ, Nghị định cũng quy định cụ thể cách thức xếp lương, bảo đảm việc chuyển xếp được thực hiện tương ứng với hệ số lương, thời gian hưởng lương và các khoản phụ cấp theo từng trường hợp.
Siết chặt tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm
Nghị định số 300/2026/NĐ-CP đồng thời sửa đổi, bổ sung Điều 29 về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm.
Theo đó, người được xem xét bổ nhiệm phải bảo đảm tiêu chuẩn chung theo quy định của Đảng, pháp luật và tiêu chuẩn cụ thể của chức vụ, chức danh được bổ nhiệm.
Đối với nhân sự tại chỗ, phải được quy hoạch vào chức vụ, chức danh dự kiến bổ nhiệm hoặc chức vụ, chức danh tương đương trở lên. Đối với nhân sự từ nơi khác, phải được quy hoạch chức vụ, chức danh tương đương trở lên, trừ trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Người được bổ nhiệm giữ chức vụ cao hơn phải có ít nhất 1 năm (12 tháng) giữ chức vụ đang đảm nhiệm liền kề hoặc chức vụ, chức danh tương đương liền kề với chức vụ dự kiến bổ nhiệm. Trường hợp thời gian giữ chức vụ không liên tục thì được cộng dồn theo quy định.
Bên cạnh đó, người được xem xét bổ nhiệm phải có hồ sơ, lý lịch cá nhân và bản kê khai tài sản, thu nhập đầy đủ, rõ ràng; được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, xác minh; được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong 3 năm gần nhất; có kinh nghiệm công tác, kinh nghiệm quản lý, điều hành, thành tích, kết quả và sản phẩm cụ thể phù hợp với vị trí dự kiến bổ nhiệm.
Về độ tuổi, công chức được đề nghị bổ nhiệm lần đầu giữ chức vụ quản lý hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ cao hơn phải đủ tuổi để công tác trọn thời hạn bổ nhiệm. Trường hợp đặc biệt không đủ tuổi, cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trên cơ sở đánh giá khách quan về thành tích, sản phẩm và kết quả cụ thể.
Người được bổ nhiệm cũng phải đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ, chức trách được giao và không thuộc các trường hợp bị cấm hoặc chưa được xem xét bổ nhiệm theo quy định.
Nghị định số 300/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2026.