Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2022   |    Hà Tĩnh có 7 ca mắc sốt xuất huyết tại chỗ, người dân cần nêu cao cảnh giác   |    Tăng cường tuyên truyền sử dụng vật tư nông nghiệp cho người dân Cẩm Xuyên   |    Về việc lấy ý kiến góp ý của nhân dân về “Lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030 thành phố Hà Tĩnh”   |    Về việc lấy ý kiến góp ý của nhân dân về “Lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030 thị xã Hồng Lĩnh”   |   

Nguyễn Công Trứ - Người dấn thân

  

08:01 14/12/2018

Đã, đang và sẽ còn có thật nhiều điều nói về Nguyễn Công Trứ: Một nhà nho đầy mộng công danh, một anh hùng thời loạn bất chấp chìm nổi phong trần, một doanh điền lỗi lạc toàn tâm, toàn chí vì dân, một tài tử ngang tàng khinh thị, một tiên phong của thơ ca quốc âm hiện đại... đâu cũng hiển hiện cái bản sắc văn hóa Nguyễn Công Trứ của một thời và mọi thời. Một trong những đặc trưng bản sắc văn hóa ấy là triết lý dấn thân.

Tượng thờ Nguyễn Công Trứ tại đền thờ ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình

Bài viết này xin được góp đôi lời về sự dấn thân của Nguyễn Công Trứ thời hàn nho, thời làm quan lên Thượng thư xuống lính thú và trong thi ca tình yêu cuộc sống.

Nguyễn Công Trứ con ông Nguyễn Công Tấn làm Tri phủ đời Lê thất thế phải bỏ về quê làm nghề dạy học kiếm sống rồi mất trong nghèo đói, để lại 3 gian nhà dột và 6 người con. Bấy giờ, Nguyễn Công Trứ 20 tuổi. Một gia cảnh buồn tênh:

Đầu giường tre, mối dũi quanh co

Góc tường đất giun bò lố nhố

Bóng nắng dọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô

Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó

Trong cũi lợn nằm gặm máng, đói chẳng muốn kêu

Đầu giàn chuột cậy khua niêu, buồn thôi lại bỏ...

Và ông chủ hàn nho Nguyễn Công Trứ thì một manh áo vải lạnh làm mền, nực làm gốivới cái nghèo đói, nợ nần đeo đẳng. Trong tình cảnh như thế, người ta dễ dàng buông xuôi, an phận. Nguyễn Công Trứ không chỉ “an bần, lạc đạo” mà ông nung nấu một niềm tin mãnh liệt rằng, mình có tài “tú khí giang sơn hun đúc lại”. Theo ông, muốn ra khỏi bế tắc nghèo khổ, túng bấn, chỉ có mỗi cách là dấn thân thực hiện mộng công danh: Trước là sỹ sau là khanh tướng. Ông đã quyết ra tay buồm lái với cuồng phong/ Chí những toan sẻ núi lấp sông/ Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ. Thế nhưng, thật lận đận. Khoa thi Hương đầu tiên dưới triều Nguyễn - Gia Long thứ 6, Đinh Mão 1807, Nguyễn Công Trứ dự thi lần thứ nhất, bị hỏng. Khoa thi Hương lần thứ 12, Quý Dậu 1813, Nguyễn Công Trứ đậu sinh đồ (tú tài). Mà Tú tài thì chưa được làm quan.

Mãi đến năm Kỷ Mão Gia Long thứ 18 (1819), ông mới đỗ Giải nguyên và được bổ nhiệm chức Hành tẩu Quốc sử quán. Dằng dặc 12 năm, 3 lần lều chõng tới trường thi, mãi 42 tuổi Nguyễn Công Trứ mới có chức quan nhỏ trong vương triều nhà Nguyễn.

Dù thời cuộc ra sao, hoàn cảnh gia đình thế nào, ông vẫn lạc quan yêu cuộc sống: “Trời đâu riêng khó cho ta mãi? Vinh nhục dù ai cũng một lần/ Tin xuân đã có cành mai đó...”, vẫn khảng khái dấn thân, không bao giờ lựa chọn sự dung thân, an phận, ẩn dật: Ông tuyên bố:

Nợ tang bồng quyết trả cho xong

Đã xông pha bút trận thì phải gắng gỏi kiếm cung

Làm cho tỏ tu mi nam nữ

Trong vũ trụ đã đành phận sự

Phải có danh gì với núi sông

Đi không chẳng lẽ về không.

Nguyễn Công Trứ làm quan suốt gần 30 năm, trải các đời vua: Minh Mệnh (trị vì từ năm 1820 đến 1841), Thiệu Trị (trị vì từ 1841 đến 1847), Tự Đức (trị vì từ 1847 đến 1883). Đấy là giai đoạn lịch sử Việt Nam có nhiều biến động, một “thời đại bế tắc, ở vào hoàn cảnh hẹp hòi, trên vua thì nghi kỵ, dưới các quan thì phần nhiều là bọn dung tục, chẳng có tư tưởng gì cao thượng” (Lê Thước; Sự nghiệp và thi văn Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ; Lê Văn Tân; Hà Nội; 1928).