Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh năm 2017

1. Tăng trưởng kinh tế
 Tăng trưởng kinh tế sau sự sụt giảm mạnh trong năm 2016 (tăng trưởng GRDP -15,31%) thì năm 2017 đã phục hồi trở lại một cách mạnh mẽ. Mặc dù đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức nhưng với sự phát triển của ngành công nghiệp mà chủ lực là dự án Fomosa Hà Tĩnh đi vào sản xuất đã tạo bước phát triển mới cho kinh tế tỉnh Hà Tĩnh. Năm 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế dự ước tăng 10,51% so với năm 2016 (kế hoạch tăng 10,6%); trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 4,19% (kế hoạch tăng 3,5%); khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 28,71% (kế hoạch tăng 18,5%); khu vực dịch vụ và thuế, trợ cấp sản phẩm tăng 5,46% (kế hoạch tăng 8,4%), trong đó: Các ngành thương mại, dịch vụ tăng 5,84% và thuế, trợ cấp sản phẩm tăng 3,74%.      Tính cả giai đoạn từ năm 2013-2017, tăng trưởng GRDP của Hà Tĩnh đạt mức khá, bình quân chung tăng 16,88%/năm và chủ yếu dựa vào tăng trưởng của hoạt động xây dựng thông qua vốn đầu tư dự án Fomosa, trong đó khu vực sản xuất công nghiệp và xây dựng là thành tố quan trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng bình quân chung cả giai đoạn, với mức tăng trưởng chung đạt 31,4%/năm. Riêng năm 2017, tăng trưởng kinh tế chủ yếu từ kết quả của hoạt động sản xuất công nghiệp mà chủ lực là từ dự án Fomosa. Vì vậy, mặc dù với mức tăng 10,51% là thấp hơn các năm trước (trừ năm 2016) nhưng tính bền vững trong tăng trưởng kinh tế năm 2017 lại cao hơn và tiếp tục phát triển, tạo tiền đề cho bước đột phá mới.  
          1.1. Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong điều kiện vẫn đang chịu ảnh hưởng từ sự cố môi trường biển; bảo lũ xẩy ra trên địa bàn và đặc biệt là sâu bệnh gây thiệt hại nặng nề đối với lúa vụ Xuân 2017 đã ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
          Đối với khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2017 dự ước tăng trưởng -4,19% so với năm 2016, đóng góp -0,82 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Trong đó: sản xuất lâm nghiệp ước tính tăng trưởng 7,49%, đóng góp -0,11 điểm % mức tăng chung; với sự ổn định phát triển trở lại của sản xuất thủy sản sau sự cố môi trưởng biển đẽ làm cho ngành thủy sản ước tính tăng trưởng 16,36%, đóng góp 0,25 điểm % vào mức tăng chung. Như vậy, tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm so với năm 2016 chính là do ngành sản xuất nông nghiệp giảm 7,1%, làm giảm 1,17 điểm % mức tăng chung và tăng trưởng kinh tế trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản của Hà Tĩnh vẫn chưa có bước đột phá.
          1.2. Sản xuất công nghiệp có bước phát triển khá, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Hoạt động xây dựng trong năm qua tiếp tục giảm mạnh.
          Sau sự sụt giảm mạnh năm 2016 (-27,33%) do sự cố môi trường biển ảnh hưởng đến dự án Fomosa, thì tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng năm 2017 đã có sự tăng trưởng vượt bậc với mức tăng 28,71% so với cùng kỳ năm 2016, đóng góp 8,55 điểm % vào tăng trưởng chung. Sự tăng trưởng của khu vực này là một trong những nguyên nhân chính tác động làm tăng chỉ tiêu GRDP năm 2017, trong đó: Ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao, tăng 73,36% so với năm 2016, đóng góp 10,93 điểm % vào tăng trưởng chung, riêng dự án Formosa Hà Tĩnh đóng góp đến 9,36 điểm %; ngành xây dựng có mức tăng trưởng -16% so với năm 2016, đóng góp -2,38 điểm % vào tăng trưởng chung, riêng dự án Formosa làm giảm 2,21 điểm %.
          Như vậy, trong mức tăng trưởng chung của Hà Tĩnh năm 2017 là 10,51% thì riêng Dự án Fomosa Hà Tĩnh đã đóng góp 7,15 điểm %, trong đó: Công nghiệp đóng góp 9,36 điểm % và xây dựng làm giảm 2,21 điểm %. Thời gian tới đây vẫn sẽ là một trong những dự án đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của Hà Tĩnh và có những đóng góp, ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng chung của cả nước khi mà dự án đi vào hoạt động sản xuất ổn định.
          1.3. Kết quả sản xuất của các ngành thương mại và dịch vụ năm 2017 tăng so với năm 2016, nhưng nhìn chung còn hồi phục yếu.
          Kết quả sản xuất của các ngành thương mại và dịch vụ năm 2017 dự ước tốc độ tăng trưởng đạt 5,84% so với năm 2016, đóng góp 2,43 điểm % vào tăng trưởng chung. Nhìn chung, thị trường hàng hóa ổn định, hoạt động dịch vụ du lịch đã cơ bản phục hồi sau sự cố môi trường biển, duy trì được sự tăng trưởng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 35.362 tỷ đồng, bằng 102,04% năm 2016. Tổng khách du lịch ước cả năm đạt 1,35 triệu lượt, đạt 113% kế hoạch, tăng 23% so với năm 2016. Bên cạnh đó đã đẩy nhanh chuyển đổi mô hình quản lý và đầu tư xây dựng các chợ huyện trung tâm. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, các hoạt động xúc tiến quảng bá, kết nối tiêu thụ sản phẩm của địa phương. Với kết quả thu ngân sách phấn đấu đạt và vượt kế hoạch đặt ra.
          1.4. Thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm năm 2017 dự ước tiếp tục có sự tăng nhẹ so với năm 2016.
          Năm 2017, thuế sản phẩm trừ (-) trợ cấp sản phẩm tăng 3,74% so với năm 2016, đóng góp 0,34 điểm % trong tổng mức tăng trưởng chung. Do lượng máy móc thiết bị vẫn được nhập khẩu để phục vụ các dự án trên địa bàn tỉnh nên thuế nhập khẩu vẫn ổn định và có mức tăng nhẹ.
          Tóm lại, nếu loại trừ yếu tố giảm (giảm ngành nông nghiệp và giảm từ xây dựng dự án Fomosa) thì dự ước GRDP năm 2017 tăng 13,89% so với năm 2016 (khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%, đóng góp 0,36 điểm % trong mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 36,12%, đóng góp 10,76 điểm % trong mức tăng chung; khu vực dịch vụ tăng 5,46%, đóng góp 2,77 điểm %. Tốc độ tăng trưởng này phản ánh đúng với thực tế giai đoạn hiện nay khi mà các công trình, dự án lớn ở Hà Tĩnh đã hoàn thành quá trình đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và lắp đặt máy móc thiết bị (làm giảm ngành xây dựng), trong khi sản xuất vẫn còn gặp nhiều khó khăn mặc dù đã có sản phẩm mới được sản xuất (thép). Với quy mô GRDP của Hà Tĩnh không lớn nên với tác động của một yếu tố nào cũng có thể làm thay đổi nhiều đến chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP. Như vậy, khi mà dự án lớn Fomosa đã đi vào ổn định sản xuất sẽ cùng với các ngành kinh tế khác sẽ tạo ra bước đột phá về tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới trên địa bàn Hà Tĩnh.
          2. Tài chính, ngân hàng
          2.1. Thu - chi ngân sách:
          Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh tính đến 31/11/2017 đạt 10.180,9 tỷ đồng, bằng 100,24% so với cùng kỳ năm trước và bằng 137,49% dự toán năm, trong đó: Thu nội địa đạt 4.530,5 tỷ đồng, bằng 103,14% so với cùng kỳ năm trước và bằng 77,38% dự toán năm; thu hải quan đạt 2.626,8 tỷ đồng, bằng 147,078% so với cùng kỳ năm trước và bằng 169,47% dự toán năm. Mặc dù cấp ủy, chính quyền cũng như các ngành chức năng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm tăng thu ngân sách nhưng do điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, sản xuất kinh doanh trên địa bàn phát triển chậm, một số chính sách thuế có sự thay đổi nên thu ngân sách Nhà nước vẫn còn gặp khó khăn. Thời gian tới cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn và khai thác tối đa các nguồn thu trên địa bàn nhằm thực hiện đạt mức cao nhất kế hoạch thu ngân sách Nhà nước trong năm 2017 để đảm bảo tốt cân đối chi trên địa bàn. 
          Tổng chi ngân sách địa phương trên địa bàn toàn tỉnh tính đến ngày 31/11/2017 là 15.682,6 tỷ đồng, bằng 99,84% so với cùng kỳ năm trước và bằng 91,64% so với dự toán năm, trong đó: Chi ngân sách Nhà nước là 10.144,2 tỷ đồng, bằng 104,73% so với cùng kỳ năm trước và bằng 86,88% so với dự toán năm; chi bổ sung ngân sách cấp dưới là 5.467,3 tỷ đồng, bằng 92,74% so với cùng kỳ năm trước và bằng 131,82% so với dự toán năm. Cụ thể một số khoản chi như sau: Chi đầu tư phát triển 3.634,1 tỷ đồng, bằng 102,14% so với cùng kỳ năm trước và bằng 130,18% so với dự toán năm; chi thường xuyên 6.510 tỷ đồng, bằng 106,31% so với cùng kỳ năm trước và bằng 73,28% so với dự toán năm. Trong điều kiện thu ngân sách rất khó khăn, nhưng với các giải pháp điều hành linh hoạt, hợp lý nên chi ngân sách địa phương cơ bản thực hiện đúng tiến độ theo dự toán. Một số nhiệm vụ, mục tiêu của tỉnh được quan tâm giải ngân kịp thời ngay từ đầu năm, chủ động cân đối xử lý nguồn kịp thời cho các cấp, các ngành, đơn vị thực hiện. Đảm bảo đủ nguồn vốn cho chi đầu tư phát triển, chi các hoạt động hành chính, sự nghiệp cấp tỉnh, các chính sách phát triển, an sinh xã hội, an ninh- quốc phòng và cố gắng, kịp thời đáp ứng nguồn thực hiện các nhiệm vụ đột xuất cấp bách, các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
          2.2. Hoạt động ngân hàng:
          Năm 2017, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Hà Tĩnh tiếp tục triển khai và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chủ trương, cơ chế chính sách của Nhà nước và của ngành đến các tổ chức tín dụng tại địa bàn. Trong đó, tập trung quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các văn bản điều hành của Chính phủ, của Ngành, của UBND tỉnh. Vì vậy, trong thời gian quahoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển.
          - Công tác huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động quản lý ước tính đến thời điểm 15/11/2017 đạt 41.415  tỷ đồng, tăng 20,3% so với đầu năm. Ước tính đến 31/12/2017, nguồn vốn huy động đạt 42.150 tỷ đồng, tăng 23,26% so với đầu năm, vượt kế hoạch 35,06% kế hoạch đề ra đầu năm (kế hoạch tăng 17%). Huy động vốn tăng trưởng mạnh (tăng 19,16% so với đầu năm, tăng 22,45% so với cùng kỳ năm trước); trong đó nguồn vốn tiết kiệm dân cư tăng 19,82%, điều đó chứng tỏ việc gửi tiền vào ngân hàng vẫn là một kênh đầu tư hấp dẫn người dân. Nguồn vốn huy động tăng, trong đó nguồn trung dài hạn tăng hơn 50%, đã tạo điều kiện cho ngân hàng chủ động nguồn vốn để đẩy mạnh hoạt động cho vay trên địa bàn.
          - Cho vay nền kinh tế: Với nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên địa bàn, các tổ chức tín dụng đã áp dụng đồng loạt nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay, nhờ đó dư nợ của các tổ chức tín dụng tăng trưởng tương đối tốt và tăng đều qua các tháng. Doanh số cho vay 10 tháng đầu năm 2017 đạt 47.726 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm 2016. Dư nợ cho vay đến 31/10/2017 đạt 36.414 tỷ đồng, tăng 10,04% so với đầu năm, tăng 22,44% so với cùng kỳ năm 2016.
          Dư nợ cho vay đến ngày 15/11/2017 đạt 37.185 tỷ đồng, tăng 12,36% so với đầu năm. Ước tính đến 31/12/2017 tổng dư nợ đạt 38.725 tỷ đồng, tăng 17% so với đầu năm, đạt 100% so với kế hoạch đề ra.
          - Kết quả thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn: Trong 10 tháng đầu năm 2017, số khách hàng được cho vay hỗ trợ lãi suất theo các quyết định của Chính phủ, của tỉnh tăng 194 khách hàng, với doanh số cho vay được hỗ trợ là 102,49 tỷ đồng, lãi được hỗ trợ cho các khách hàng đang hưởng chính sách là 28,05 tỷ đồng (lũy kế từ thời điểm triển khai các quyết định hỗ trợ lãi suất doanh số cho vay đạt 8.604 tỷ đồng, số khách hàng, lượt khách được hỗ trợ là 43.099, số lãi được hỗ trợ 339,9 tỷ đồng). Từ đầu năm đến 31/10/2017, các tổ chức tín dụng đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ cho 5.363 khách hàng với dư nợ được cơ cấu, điều chỉnh kỳ hạn là hơn 326 tỷ đồng. Tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp do sự cố môi trường biển. Tính từ thời điểm xảy ra sự cố đến nay đã thực hiện cơ cấu lại nợ cho 446 khách hàng với tổng dư nợ được cơ cấu là 82,66 tỷ đồng, miễn giảm lãi vay cho 319 khách hàng với số lãi được miễn giảm là 1,1 tỷ đồng. Cho vay mới đối với 1.824 khách hàng với doanh số cho vay lũy kế 132,06 tỷ đồng. Cho vay đóng tàu, mua ngư cụ đối với 25 khách hàng, doanh số cho vay là 11,76 tỷ đồng, cho vay chuyển đối nghề tại Ngân hàng chính sách xã hội đối với 89 khách hàng, doanh số cho vay được hỗ trợ là 4,24 tỷ đồng.
          Thực hiện cơ cấu lại nợ theo Quyết định số 12/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 09 khách hàng với tổng dư nợ là 30,2 tỷ đồng; cho vay khôi phục sản xuất kinh doanh, chuyển đổi nghề cho 1.180 khách hàng với doanh số cho vay 132,44 tỷ đồng. Triển khai Nghị định 67, tính đến ngày 31/10/2017 đã có 11 chủ tàu ký hợp đồng tín dụng với các ngân hàng thương mại với tổng hạn mức cho vay là 162,93 tỷ đồng, đã giải ngân được 157,98 tỷ đồng, dư nợ đến thời điểm hiện tại 152,62 tỷ đồng. Đã bàn giao và hạ thủy được 10 con tàu vỏ thép, còn 01 tàu đang tiếp tục hoàn thiện để đưa vào sử dụng. Triển khai Nghị quyết 02, có 07 ngân hàng tham gia, đã cho vay 1.027 khách hàng với dư nợ cam kết là 515 tỷ đồng, tính đến 31/10/2017 dư nợ là 402 tỷ đồng. Còn triển khai chương trình kết nối Ngân hàng-Doanh nghiệp, 10 tháng đầu năm, ngành Ngân hàng đã chủ trì và phối hợp tổ chức 08 cuộc kết nối, với doanh số lũy kế hơn 33 tỷ đồng, cam kết cho vay hơn 28 nghìn khách hàng, trong đó có 2.000 là doanh nghiệp.
          Về dư nợ các chương trình chính sách trên địa bàn, tính đến ngày 31/10/201dư nợ NHCSXH đạt 4.077 tỷ đồng, chiếm 11,20% tổng dư nợ toàn địa bàn, dư nợ cụ thể các chương trình như sau: Cho vay hộ nghèo 693 tỷ đồng; Cho vay hộ cận nghèo 1.050 tỷ đồng; Cho vay hộ mới thoát nghèo 550 tỷ đồng; Cho vay HSSV 352 tỷ đồng; Cho vay GQVL 91,3 tỷ đồng; Cho vay XKLĐ 5,6 tỷ đồng; Cho vay NS&VSMTNT 510 tỷ đồng; Cho vay doanh nghiệp 0,13 tỷ đồng; Cho vay SXKD tại VKK 691 tỷ đồng; Cho vay thương nhân VKK 3,5 tỷ đồng; Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QĐ167: 67,9 tỷ đồng; Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo QĐ33: 4,37 tỷ; Cho vay xây chòi tránh lũ, lụt 0,84 tỷ đồngvà một số chương trình khác.
          - Công tác thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng: Các hoạt động thanh toán, tiền tệ - kho quỹ, phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh, đảm bảo độ chính xác cao và an toàn. Đặc biệt đã đáp ứng nhu cầu tiền mặt cho sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Công tác phát hiện xử lý, phối hợp với các cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tiền giả được quan tâm. Tính đến 31/10/2017 trên địa bàn có 132 máy đang hoạt động (trong đó: thành phố 58 máy và các huyện, thị xã 74 máy) với số lượng thẻ phát hành hơn 540 nghìn thẻ, tăng 3,13% so với đầu năm, tại địa bàn giao dịch qua máy ATM chủ yếu là rút tiền mặt (chiếm 94,18% tổng giao dịch qua máy ATM); toàn tỉnh có 374 máy POS, tăng 29 máy so với đầu năm, có 232 điểm chấp nhận thẻ đã kết nối liên thông với các TCTD trên địa bàn.     
          3. Đầu tư và xây dựng
          3.1. Đầu tư phát triển:
          Nhiệm vụ xúc tiến, kêu gọi đầu tư, triển khai dự án sau đăng ký đầu tư được tăng cường; một số ngành, địa phương triển khai tích cực; công tác GPMB, tháo gỡ khó khăn vướng mắc tồn đọng để triển khai các dự án tại Khu kinh tế Vũng Áng được tập trung chỉ đạo. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành đưa vào hoạt động và khởi công một số dự án quy mô lớn như: Khu nghỉ dưỡng 5 sao Vinpearl Hà Tĩnh, công viên nước Vinpearlland water Park Hà Tĩnh, trường đua chó và sân golf Xuân Thành, Khu trung tâm thương mại Vincom 36 tầng. Tiếp tục thu hút được các tập đoàn mạnh đầu tư vào địa bàn (VinGroup, FLC, T&T, DABACO…); xã hội hoá đầu tư đạt kết quả tích cực, nhất là lĩnh vực giáo dục và nhà ở đô thị; các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng theo hình thức PPP được nhà đầu tư quan tâm tham gia, đặc biệt là hạ tầng đô thị thành phố Hà Tĩnh. Song bên cạnh đó, vẫn còn một số dự án triển khai chậm so với kế hoạch như: Cụm cảng số 4, 5, 6, 7 và Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II.
         Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2017 đạt 30.019,03 tỷ đồng, giảm 29,68% so với cùng kỳ năm trước.   Như vậy, năm 2017, tổng vốn đầu tư phát triển giảm mạnh so với năm 2016 và đều giảm ở cả ba nguồn vốn. Trong đó: Vốn Nhà nước giảm 15,83%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 44,85% và vốn ngoài nhà nước giảm 3,79%.
Xét về nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển thì nguồn vốn đầu tư trong năm 2017 vẫn chủ yếu là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và được tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng cơ bản.
          Tính từ đầu năm đến nay đã chấp thuận chủ trương đầu tư 87 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 9.010 tỷ đồng, quy mô đầu tư có xu hướng tăng, so với cùng kỳ 2016 giảm 26 dự án đầu tư trong nước nhưng tổng vốn đăng ký đầu tư tăng 16%; trong đó Khu kinh tế Vũng Áng có 6 dự án trong nước vốn đăng ký 1.652 tỷ đồng và 03dự án FDI vốn đăng ký 14,96 triệu USD.
          3.2. Xây dựng
          Năm 2017, hoạt động xây dựng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, nhiều dự án lớn chậm thi công, như: cầu cảng số 3 và số 4 được cấp phép từ năm 2015 nhưng đến nay vẫn chưa thi công, hiện cả 2 dự án đang trong giai đoạn bồi thường, giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng...; bên cạnh đó, một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài triển khai chậm, dự án Formosa đã cơ bản hoàn thành giai đoạn 1 nên vốn đầu tư giảm mạnh và chủ yếu đầu tư vào máy móc thiết bị dẫn đến làm giảm giá trị xây dựng chung toàn tỉnh.
          Trong tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thì vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản chiếm 94,62% tổng nguồn vốn đầu tư. Vì vậy, khi nguồn vốn đầu tư phát triển giảm 29,68% thì giá trị sản xuất của ngành xây dựng giảm 21,14%. Ở khu vực dân cư năm 2016 có gói cho vay 30 ngàn tỷ với lãi suất ưu đãi để xây dựng nhà ở nhưng đến năm 2017 gói tín dụng này đã kết thúc nên kết quả hoạt động xây dựng ở khu vực dân cư cũng giảm 2,52% so với cùng kỳ. Ngoài ra, dự án Formosa chỉ thực hiện một số công trình phụ trợ như: Trạm xử lý nước thải sinh hoạt, trạm xử lý nước thải sinh hóa, trạm xử lý nước thải công nghiệp, nên làm cho kết quả hoạt động xây dựng ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 64,08%.
          Nếu phân theo loại công trình, thì ta thấy kết quả hoạt động xây dựng cũng có sự khác biệt. Đối với xây dựng công trình nhà ở, kết quả hoạt động xây dựng năm 2017 giảm 5,15% so với năm 2016; xây dựng công trình nhà không để ở tăng 5,91%; xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng giảm 24,8% và xây dựng chuyên dụng giảm 22,38%.
          Tính đến thời điểm hiện nay, các công trình dự án trọng điểm trên địa bàn Hà Tĩnh cơ bản đã hoàn thành bao gồm: Dự án Formosa, dự án mở rộng QL1 đoạn Bắc - Nam thành phố Hà Tĩnh, dự án Vingroup - Cửa Sót, dự án cải thiện môi trường, dự án Phát triển nông thôn bền vững vì người nghèo Hà Tĩnh (SRDP), với tổng vốn ước thực hiện 13.817,88 tỷ đồng, trong đó xây dựng đạt 3.415,57 tỷ đồng (lớn nhất dự án Khu liên hợp Gang thép và cảng Sơn Dương Formosa, tổng vốn ước thực hiện 13022,68 tỷ đồng, trong đó xây dựng đạt 2.994,7 tỷ đồng). Còn các công trình dự án trọng điểm đang triển khai, chưa hoàn thành: Dự án công trình đầu mối Hồ chứa nước Ngàn Trươi, dự án cống Đò Điểm và hệ thống kênh trục sông Nghèn, dự án xây dựng cấu cảng số 4, dự án thí điểm nhà ở xã hội tại phường Thạch Linh - TP.Hà Tĩnh, dự án Quản lý rủi ro thiên tai, với tổng vốn đầu tư theo kế hoạch là 5.686,95 tỷ đồng, trong đó xây dựng năm 2017 ước đạt 402,2 tỷ đồng (lớn nhất là dự án công trình đầu mối Hồ chứa nước Ngàn Trươi, với tổng vốn đầu tư theo kế hoạch là 3.050 tỷ đồng, xây dựng năm 2017 ước đạt 151,19 tỷ đồng).
         4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
          Năm 2017, do khó khăn chung của nền kinh tế và phần nào đang bị ảnh hưởng từ sự cố môi trường biển nên số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trên địa bàn Hà Tĩnh tăng so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thành lập mới 720 doanh nghiệp, tăng 3,45% (tăng 54 doanh nghiệp); số vốn đăng ký đạt 5.362,9 tỷ đồng, giảm 5,81% (giảm 330,8 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm 2016. Vốn đăng ký bình quân đạt 7,45 tỷ đồng/doanh nghiệp, giảm 9,9% (giảm 0,82 tỷ đồng/doanh nghiệp) so với cùng kỳ năm trước.
         Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải chấm dứt hoạt động đến 15/12/2017 là 82 doanh nghiệp, giảm 53,4% so cùng kỳ năm trước và có 176 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh nêu trên, đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh chưa có doanh nghiệp nào bị thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh do vi phạm quy định pháp luật hay bị phá sản.
          Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm 2017 vẫn đang còn nhiều khó khăn, tổng doanh thu giảm so cùng kỳ, chỉ 1.837 DN có phát sinh thuế, chiếm 24% tổng số doanh nghiệp đăng ký, chiếm gần 40% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn; tỷ lệ doanh nghiệp tham gia bảo hiểm cho người lao động đạt 53,5% (gồm 2.408 doanh nghiệp tham gia BHXH với 34.331 lao động). Hiện nay khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp vẫn là thị trường tiêu thụ sản phẩm và giá cả đầu ra trong khi chi phí đầu vào không giảm. Tuy nhiên, hàng năm các doanh nghiệp cũng đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, trong đó loại hình công ty cổ phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động mới nhất, tiếp đến là loại hình công ty TNHH và thấp nhất là loại hình doanh nghiệp tư nhân.
          5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
          5.1. Sản xuất nông nghiệp
          a. Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh sơ bộ đạt 159.235 ha, bằng 99,42% (giảm 928 ha), cây lương thực có hạt đạt 111.767 ha, chiếm 70,19% tổng diện tích gieo trồng và bằng 98,89% so với năm 2016. Tổng sản lượng lương thực có hạt sơ bộ đạt 470.430 tấn, bằng 83,12% (giảm 95.508 tấn), trong đó sản lượng lúa đạt 442.980 tấn, bằng 83,52% (giảm 87.419 tấn); sản lượng ngô đạt 27.450 tấn, bằng 77,24% (giảm 8.089 tấn) so với năm 2016.
          Diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 104.072 ha, bằng 100,67% (tăng 688 ha) so với năm trước; lúa Đông Xuân đạt 58.866 ha, bằng 101,15% (tăng 670 ha); lúa Hè Thu đạt 44.510 ha, bằng 101,17% (tăng 513 ha); lúa Mùa đạt 1.191 ha, bằng 58,44% (giảm 495 ha).
          Năng suất lúa cả năm ước tính đạt 42,56 tạ/ha, so với năm trước bằng 82,97% (giảm 8,74 tạ/ha), trong đó: Năng suất lúa vụ Đông Xuân đạt 41,09 tạ/ha, bằng 72,76% (giảm 15,39 tạ/ha); vụ Hè Thu sơ bộ đạt 44,88 tạ/ha, bằng 98,75% (giảm 0,57 tạ/ha) và vụ Mùa ước đạt 19,21 tạ/ha, bằng 128,97% (tăng 4,31 tạ/ha) so với cùng kỳ năm 2016.
          Diện tích ngô cả năm ước đạt 7.695 ha, bằng 79,86% (giảm 1.940 ha) so với năm 2016, trong đó: Diện tích ngô vụ Đông đạt 2.309 ha, bằng 58,09% (giảm 1.665ha); diện tích ngô vụ Xuân đạt 3.409 ha, bằng 86,76% (giảm 520 ha) và diện tích ngô vụ Thu Mùa ước đạt 1.977 ha, bằng 114,17% (tăng 245 ha). Với năng suất ngô cả năm ước tính đạt 35,66 tạ/ha, bằng 96,68% (giảm 1,22 tạ/ha) so với năm trước. Sản lượng ngô cả năm ước tính đạt 27.440 tấn, bằng 77,21% (giảm 8.099 tấn) so với cùng kỳ năm trước
         Kết quả sản xuất một số loại cây hàng năm khác thiếu ổn định cả về diện tích và năng suất so với năm trước, cụ thể: Cây khoai lang diện tích sơ bộ đạt 4.160 ha, bằng 87,66% (giảm 586 ha), năng suất sơ bộ đạt 64,62 tạ/ha, bằng 101,71% (tăng 1,1 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 27.299 tấn, bằng 89,15% (giảm 3.321 tấn); cây lạc diện tích sơ bộ đạt 15.117 ha, bằng 97,63% (giảm 367 ha), năng suất sơ bộ đạt 23,42 tạ/ha, bằng 94,45% (giảm 1,38 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 35.400 tấn, bằng 92,21% (giảm 2.989 tấn); cây rau các loại diện tích sơ bộ đạt 10.733 ha, bằng 100,59% (tăng 63ha), năng suất sơ bộ đạt 65,93 tạ/ha, bằng 101,27% (tăng 0,82 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 70.759 tấn, bằng 101,85% (tăng 1.288 tấn); cây đậu các loại diện tích sơ bộ đạt 6.711 ha, bằng 82,34% (giảm 1.439 ha), năng suất sơ bộ đạt 6,11 tạ/ha, bằng 68,1% (giảm 2,86 tạ/ha), sản lượng sơ bộ đạt 4.100 tấn, bằng 56,08% (giảm 3.211 tấn).
           Bên cạnh sản xuất cây hàng năm thì việc chăm sóc và trồng mới các loại cây lâu năm cũng đã được quan tâm thực hiện. Sơ bộ tổng diện tích cây lâu năm hiện có là 28.647 ha, bằng 103,88% (tăng 1.070 ha) so với năm 2016, trong đó diện tích cây ăn quả sơ bộ là 15.633 ha, bằng 111,94% (tăng 1.667 ha), chiếm 54,57% tổng diện tích cây lâu năm. Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, được sự hỗ trợ của nhà nước, trên địa bàn thành lập nhiều mô hình, vườn mẫu trồng cây ăn quả tập trung. Các loại cây ăn quả có múi hiệu quả kinh tế cao như: cam có diện tích tăng 1217 ha; bưởi tăng 308 ha; chanh tăng 44 ha. Song cũng có một số diện tích cây ăn quả giảm: dứa giảm 17 ha; quýt giảm 23 ha. Mặt khác, do không ngừng đưa các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như phòng trừ sâu bệnh, các biện pháp chăm sóc, bảo vệ .... nên một số địa phương có diện tích cây ăn quả tăng khá so với cùng kỳ năm trước như:  Vũ Quang tăng 890 ha; Hương Sơn tăng 314 ha; Hương Khê tăng 298 ha.
          Hoạt động trồng trọt hiện nay đang tập trung chăm sóc và thu hoạch cây vụ Đông năm 2017. Diện tích gieo trồng cây vụ Đông toàn tỉnh ước đạt 12.817 ha, bằng 113,72% (tăng 1546 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Diện tích cây ngô ước đạt 3.345ha, bằng 84,65% kế hoạch và bằng 144,87% (tăng 1036 ha) so với cùng kỳ năm trước; khoai lang ước đạt 1.728 ha, bằng 61,09% kế hoạch và bằng 94,68% (giảm 97 ha) so với cùng kỳ năm trước; rau các loại ước đạt 4.216 ha, bằng 97,35% kế hoạch và bằng 112,07% (tăng 454 ha) so với cùng kỳ năm trước.
          b. Tình hình sâu bệnh đối với cây trồng: Năm 2017, các đối tượng sâu bệnh gây hại trên cây trồng diễn biến phức tạp như: bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng; sâu cuốn lá nhỏ; bệnh khô vằn; bệnh chảy gôm; sâu nhớt,… Cụ thể:
          Trên cây lúa bệnh đạo ôn lá diện tích nhiễm 2.024 ha, nhiễm nặng 124,4 ha; bệnh đạo ôn cổ bông nhiễm 20.782,8 ha, nhiễm nặng 13.149,5 ha; bọ trĩ nhiễm 385ha; bệnh khô vằn nhiễm 1.266 ha, nhiễm nặng 45 ha; rầy nâu, rầy lưng trắng nhiễm 25 ha. Trên cây lạc, nấm gây bệnh chết ẻo nhiễm 32 ha, bệnh gỉ sắt nhiễm 60 ha. Sâu cuốn lá nhỏ, phát sinh gây hại với diện tích nhiễm 868,3 ha (chủ yếu ở huyện Can Lộc, Đức Thọ, Hương Sơn và thị xã Hồng Lĩnh). Bệnh khô vằn với diện tích nhiễm 4.174 ha (tập trung chủ yếu ở huyện Cẩm Xuyên, Can Lộc), nhiễm nặng 129ha. Bệnh chảy gôm, phát sinh gây hại với diện tích nhiễm 180 ha (chủ yếu ở Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang). Bệnh câu cấu, phát sinh gây hại với diện tích nhiễm 120 ha (chủ yếu ở Hương Khê, Hương Sơn). Sâu nhớt, gây hại với diện tích nhiễm 101 ha (chủ yếu Hương Khê, Vũ Quang, Hương Sơn).
          Tình hình sâu bệnh hại trên cây lâu năm, trên cây ăn quả có múi, xuất hiện bệnh nứt thân xì mủ, vàng lá thối rễ, diện tích nhiễm 180 ha; cấu cấu gây hại 120ha; sâu nhớt 100ha; nhện đỏ gây hại 24 ha; sâu vẽ bùa 19 ha.
          c. Chăn nuôi: Dự ước số lượng đàn vật nuôi hiện có so với cùng kỳ năm trước như sau: Đàn trâu 76.849 con, bằng 89,26% (giảm 9.243 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 4.449,3 tấn, bằng 97,72% (giảm 104 tấn), do hiện nay mô hình chăn nuôi trâu chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ trong dân, nuôi kết hợp với các loại vật nuôi khác; mặt khác loại thực phẩm này cũng chưa có xu hướng tiêu dùng mạnh, chỉ có những người già cả nuôi một vài con nên xu hướng chăn nuôi trâu trong dân giảm.
Tổng đàn bò toàn tỉnh ước tính hiện có 202.935 con, bằng 88,41% (giảm 26.614 con) với sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 11.971,7 tấn, bằng 98,16% (giảm 224,3 tấn). Trong đó: Số lượng bò công ty Bình Hà nhập nuôi các đợt 43.396 con, hết ngày 06/12/2017 xuất bán 39.544 con, hiện đang nuôi trong trại 2.359 con.
         Tổng đàn lợn ước tính hiện có 426.951 con, bằng 88,39% (giảm 56.064 con) với sản lượng lợn hơi xuất chuồng năm 2017 ước đạt 78.844,7 tấn, bằng 95,62% (giảm 3.611,3 tấn).
         Tổng đàn gia cầm ước tính hiện có 8.462 ngàn con, bằng 102,82% (tăng 232 ngàn con) với sản lượng gia cầm năm 2017 ước đạt 17.189,9 tấn, bằng 102,9% (tăng 484,9 tấn). Đàn gà hiện có 6.754 ngàn con, bằng 102,41% (tăng 159 ngàn con), sản lượng xuất chuồng đạt 13.429,3 tấn, bằng 104,18% (tăng 539,2 tấn). Chăn nuôi gà tiếp tục phát triển theo hướng mô hình trang trại, gia trại; chăn nuôi gà với quy mô nhỏ cũng đang phát triển mạnh và rộng rãi ở cả khu vực nông thôn và thành thị.
          Trong năm 2017, trên địa bàn toàn tỉnh đã xuất hiện một số dịch bệnh đối với đàn vật nuôi cụ thể như sau: Dịch LMLM gia súc xảy ra tại 29 xã, phường, thị trấn thuộc 09 huyện, thị xã, thành phố (T.X Hồng Lĩnh, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Cẩm Xuyên, TP.Hà Tĩnh, T.X Kỳ Anh, Kỳ Anh, Hương Sơn) làm cho 508 con gia súc mắc bệnh (gồm 43 trâu, 377 bò, 88 lợn); trong đó 88 lợn, 01 bò chết và đã tiêu hủy. Còn dịch Cúm gia cầm xảy ra ở xã Kỳ Bắc-huyện Kỳ Anh và phường Đại Nài-thành phố Hà Tĩnh, với tổng số gia cầm ốm, chết, tiêu huỷ là 2.568 con (547 gà, 2.000 vịt, 21 ngan)Đến nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn xẩy ra dịch lở mồm long móng tại 02 xã ở huyện Đức Thọ (xã Bùi Xá và Đức Yên), 03 xã ở huyện Cẩm Xuyên (xã Cẩm Mỹ, Cẩm Duệ và thị trấn Cẩm Xuyên) và 04 xã ở huyện Thạch Hà (xã Thạch Đình, Thạch Long, Thạch Khê và thị trấn Thạch Hà). Tổng số gia súc mắc bệnh là 83 con (05 trâu, 78 bò lợn) của 59 hộ thuộc 14 thôn.
           Tiến độ tiêm phòng: Năm 2017 đã tiêm phòng 2 đợt. Đợt 1, vắc xin lở mồm long móng ở trâu bò tiêm được 133.101 con đạt 54% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 123.908 con đạt 50,5% kế hoạch; ở đàn lợn: Vắc xin dịch tả tiêm được 170.700 con đạt 44,5% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 164.668 con đạt 42.6% kế hoạch; ở đàn chó: Vắc xin dại chó tiêm được 92.795 con đạt 46.5% kê hoạch; ở đàn gia cầm: Vắc xin cúm gia cầm H5N1 tiêm được 679.816 con đạt 11% kế hoạch. Đợt 2, vắc xin lở mồm long móng ở trâu bò tiêm được 127.464 con đạt 52% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 114.404  con đạt 46,5% kế hoạch; Đàn lợn: vắc xin dịch tả tiêm được173.561 con đạt 45% kế hoạch, vắc xin tụ huyết trùng tiêm được 152.136 con đạt 40% kế hoạch; Đàn gia cầm: vắc xin cúm gia cầm H5N1 tiêm được 591.692 con đạt 10% kế hoạch.
5.2. Lâm nghiệp
Năm 2017, diện tích rừng trồng tập trung ước đạt 7.437 ha, bằng 116,17% (tăng 1.035 ha), trong đó chủ yếu là rừng sản xuất với diện tích ước đạt 7.159 ha (chiếm 96,26%) tổng diện tích rừng trồng. Diện tích rừng trồng tập trung chủ yếu ở: huyện Hương Sơn ước đạt 1.505 ha, huyện Kỳ Anh ước đạt 3.208 ha, huyện Thạch Hà ước đạt 533 ha, huyện Hương Khê ước đạt 710 ha, huyện Cẩm Xuyên ước đạt 502 ha... Diện tích rừng được chăm sóc là 24.048 ha, bằng 100,54% (tăng 130 ha); diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh là 15.192 ha, bằng 93,77% (giảm 1.009 ha); diện tích rừng được giao khoán bảo vệ là 202.909 ha, bằng 91,04% (giảm 19.968 ha). Do thực hiện chính sách phát triển kinh tế lâm nghiệp bằng việc giao đất vùng đồi núi gần dân và hỗ trợ vốn của chương trình bảo vệ; cùng với vốn đầu tư tái sản xuất trong dân từ kết quả trồng và khai thác rừng nên diện tích rừng trồng tiếp tục phát triển.
Số lượng cây trồng phân tán năm 2017 ước đạt 5.091 ngàn cây, bằng 86,54% (giảm 792 ngàn cây) so với năm 2016. Trồng cây phân tán chủ yếu được trồng vào các dịp lễ tết và thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
          Sản lượng gỗ khai thác năm 2017 ước đạt 419.548 m3, bằng 155,36% (tăng 1149.505 m3) so với năm 2016, chủ yếu là các loại gỗ được khai thác từ rừng trồng phục vụ làm nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất dăm gỗ xuất khẩu; khai thác củi ước đạt 897.200 Ste, bằng 123,07%, (tăng 168.166 Ste). Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt khá như: Huyện Hương Sơn 69.000 m3, huyện Kỳ Anh 182.500 m3, huyện Cẩm Xuyên 32.637 m3, huyện Hương Khê 43.620 m3, thị xã Kỳ Anh 40.800 m3...
Công tác phòng chống cháy rừng tiếp tục được tăng cường chặt chẽ từ cơ sở, đơn vị và vùng dân sống ở gần rừng. Năm 2017, đã xẩy ra 07 vụ cháy rừng (giảm 10 vụ), diện tích bị cháy ước thiệt hại 7,8 ha thuộc rừng trồng (giảm 104,7 ha), giá trị thiệt hại ước 440 triệu đồng (giảm 1.380 triệu đồng) so với năm 2016. Số vụ cháy rừng xẩy ra ở các huyện: huyện Hương Sơn 06 vụ và Thạch Hà 01 vụ. Mặc dù công tác phòng chống cháy rừng đã tập trung cao độ, song do thời tiết nắng nóng với nền nhiệt cao cùng với sự thiếu cẩn trọng của người dân nên cháy rừng vẫn xẩy ra.
          5.3. Thuỷ sản
Hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản từng bước phục hồi và tăng trưởng trở lại sau sự cố môi trường biển. Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2017 đạt 7.394 ha, bằng 108,85% (tăng 601 ha) so với năm 2016, trong đó: nuôi thâm canh, bán thâm canh chiếm 27,4%; nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến chiếm 72,5%. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ngày càng được mở rộng và tăng số vụ nuôi. Nhiều doanh nghiệp, hộ nông dân đã mạnh dạn bỏ vốn lớn để xây dựng và cải tạo ao hồ, thu được kết quả khá, qua đó kích thích được phong trào nuôi trồng thuỷ sản của người dân. Với sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy hải sản năm 2017 ước đạt 44.986 tấn, bằng 116,37% (tăng 6.327 tấn) so với năm 2016, trong đó: Sản lượng nuôi trồng là 12.986 tấn, bằng 103,95% (tăng 493 tấn) và sản lượng khai thác là 32.000 tấn, bằng 122,3% (tăng 5.843 tấn).
Về dịch bệnh: Trong năm 2017, do thời tiết thay đổi thất thường, gió mùa xen kẽ các đợt nắng nóng làm cho nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm rất lớn, gây biến động các yếu tố môi trường, giảm sức đề kháng của tôm,nên đã xuất hiện bệnh đốm trắng và hoại tử gan tụy cấp tính ở tôm, cụ thể: bệnh đốm trắng xảy ra ở 149,33 ha và hoại tử 21,57 ha (thuộc huyện Cẩm Xuyên, Lộc Hà, Thạch Hà, Nghi Xuân, Kỳ Anh, thị xã Kỳ Anh và Thành phố Hà Tĩnh). Dịch bệnh được phát hiện sớm, nên công tác phòng chống được các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn khẩn trương triển khai các biện pháp xử lý ổ dịch. Cán bộ kỹ thuật trực tiếp xuống các vùng nuôi hướng dẫn người dân đóng kín cống, không tháo xả nước ra ngoài khi chưa qua xử lý, dùng vôi bột rải xung quanh bờ ao; thu nhặt tôm bệnh và tôm chết tiêu hủy theo đúng quy định, nhằm giảm thiệt hại cho người dân.
          6. Sản xuất công nghiệp
         Dự ước năm 2017, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp dự ước bằng 181,76% (tăng 81,76%) so với cùng kỳ năm trước. Năm 2017, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh vẫn duy trì ổn định sản xuất và giữ được mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng toàn ngành là công nghiệp chế biến chế tạo và sản xuất phân phối điện. Chỉ có ngành công nghiệp khai khoáng có chỉ số sản xuất giảm 23,74% so với cùng kỳ năm trước do hiện nay trữ lượng quặng kim loại ở các mỏ đã dần cạn kiệt, giảm ở cả khai thác quặng kim loại (giảm 27,28%) và khai thác đá, cát, sỏi (giảm 23,71%). Nhiều ngành công nghiệp cấp 2 có mức tăng khá như: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 15,26%; than cốc tăng 3715%; thép tăng 6,76 lần; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 32,9%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,56%Bên cạnh một số ngành hoạt động hiệu quả vẫn còn một số ngành có tỷ trọng giá trị công nghiệp cao nhưng sản xuất giảm so với cùng kỳ như: Chế biến gỗ (giảm 7,59%); bê tông trộn sẵn (giảm 76,23%); gạch xây dựng bằng đất sét nung (giảm 15,15%); Sản xuất bia (giảm 5,23%).
Theo kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh quý IV/2017 được điều tra thu thập thông tin tại 45 doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh, kết quả cụ thể như sau:
Tổng quan tình hình sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2017 so với quý III/2017, có 60% DN đánh giá SXKD của họ khả quan hơn và giữ ổn định so với quý trước (trong đó 31,11% khẳng định SXKD tốt lên, 28,89% khẳng định giữ ổn định); 40% DN đánh giá là khó khăn hơn. Các ngành dự báo SXKD quý IV tốt hơn quý III gồm: Sản xuất trang phục 100%; sản xuất sản phẩm từ cao su 100%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế 100%;…Liên quan tới tình hình sản xuất: có 33,33% doanh nghiệp tăng sản xuất; 31,11% giảm đi; có 27,91% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng mới tăng lên; 37,21% giảm đi; 80% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới đánh giá tăng lên hoặc giữ nguyên; 33,33% doanh nghiệp đánh giá tồn kho thành phẩm giảm và 28,89% doanh nghiệp có tồn kho nguyên vật liệu giảm; 6,67% doanh nghiệp có chi phí sản xuất trên một sản phẩm chính và giá bán bình quân một sản phẩm giảm. Nhận định xu hướng SXKD dự kiến quý I/2018 so quý IV/2017 có 21,43% số DN có lượng đơn đặt hàng mới tăng; 13,33% doanh nghiệp có số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tăng; 24,44% khối lượng thành phẩm tồn kho giảm và 24,44% khối lượng nguyên vật liệu tồn kho giảm.
Ngoài ra, trong 13 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, có 2 yếu tố quan trọng được các doanh nghiệp đánh giá nhiều nhất là "nhu cầu thị trường trong nước thấp" và "tính cạnh tranh của hàng trong nước cao", cụ thể có 60% doanh nghiệp khẳng định yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và 71,11%  khẳng định “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” là các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến SXKD của doanh nghiệp. Với sự đánh giá từ các doanh nghiệp như trên, chúng ta có thể kỳ vọng hoạt động sản xuất công nghiệp thời gian sẽ có bước phát triển tích cực.
7. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụ
          7.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa
         Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2017 đạt 31.192,93 tỷ đồng, tăng 4,12% so với năm 2016. Trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 2.767,73 tỷ đồng, tăng 5,39%; kinh tế tập thể ước đạt 11,68 tỷ đồng, tăng 1,16%; kinh tế cá thể ước đạt 18.845,45 tỷ đồng, tăng 1,09%; kinh tế tư nhân ước đạt 9.568,08 tỷ đồng, tăng 10,26% so với năm 2016. Như vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2017 tăng so với cùng kỳ năm 2016, nhưng chỉ tăng nhẹ và tăng chủ yếu ở: nhóm xăng, dầu tăng 14%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,86%; nhóm nhiên liệu khác tăng 8% và nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 11,82%. Đồng thời, trong năm tỉnh cũng đã đẩy nhanh chuyển đổi mô hình quản lý và đầu tư xây dựng các chợ huyện trung tâm; đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, các hoạt động xúc tiến quảng bá, kết nối tiêu thụ sản phẩm của tỉnh, từ đó góp phần kích cầu tiêu dùng và làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng.
         Phân theo nhóm ngành ta thấy, trong tổng mức bán lẻ hàng hóa thì nhóm hàng lương thực và thực phẩm năm 2017 ước đạt 11.783,46 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 37,78%, tiếp đến là nhóm đồ dùng dụng cụ trang thiết bị gia đình ước đạt 4.447,85 tỷ đồng, chiếm 14,26% và nhóm hàng xăng, dầu các loại ước đạt 3.368,58 tỷ đồng, chiếm 10,8%. Như vậy, hoạt động bán lẻ chủ yếu là phục vụ các mặt hàng đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày của người dân (chiếm 62,84%). 
Nhìn chung, năm 2017 thị trường thương mại dịch đã phục hồi so với năm trước, nhờ có sự nỗ lực của các cấp, các ngành phục hồi sau sự cố môi trường biển; thiên tai lũ lụt; số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể tăng. Thời gian tới, để phát triển bền vững hoạt động thương mại, cần thu hút xã hội hóa đầu tư, phát triển hạ tầng thương mại dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại; tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư triển khai các dự án thương mại dịch vụ đã đăng ký đầu tư; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành chuyển đổi mô hình quản lý chợ trên địa bàn toàn tỉnh. Tăng cường các biện pháp quản lý giá cả, thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hoá, dịch vụ thiết yếu. Quản lý chặt chẽ các hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ có điều kiện.
          7.2. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành
          Doanh thu hoạt động dịch vụ l­ưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành năm 2017 ước đạt 4.766,56 tỷ đồng, tăng 20,9% so với năm 2016. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 414,51 tỷ đồng, tăng 34,41%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 4.330,61 tỷ đồng, tăng 19,69% và doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 21,44 tỷ đồng, tăng 34,48%. Nhìn chung, doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành năm 2017 tăng so với năm 2016 và tăng ở cả ba nhóm ngành dịch vụ. Sau sự cố môi trường biển năm trước, năm nay các bãi biển trên địa bàn của tỉnh ổn định đi vào hoạt động nên nhiều tổ chức, cơ quan, gia đình tổ chức tour du lịch; đồng thời, một số điểm du lịch đã khai trương các khu vui chơi như: Sân Golf Xuân Thành, Khu trung tâm dịch vụ thể thao giải trí đua chó, khu nghỉ dưỡng Vinpearl Cửa Sót (Thạch Kim, Lộc Hà) đi vào hoạt động đã thu hút được nhiều khách du lịch không chỉ trong tỉnh mà cả ngoài tỉnh đến vui chơi, nghỉ mát; từ đó kéo theo các dịch vụ lưu trú và ăn uống đều có xu hướng tăng lên. Tất cả các yếu tố này đã làm cho doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng.
          7.3. Doanh thu hoạt động dịch vụ
          Doanh thu hoạt động dịch vụ năm 2017 ước đạt 1.370,79 tỷ đồng, tăng 3,87% so với năm 2016. Như vậy, hoạt động kinh doanh dịch vụ năm 2017 tăng so với năm trước nhưng chỉ tăng nhẹ. Do hoạt động kinh doanh bất động sản tăng mạnh (tăng 65,57%), với sự cải cách mạnh mẽ về môi trường kinh doanh, dòng vốn tăng trưởng ổn định cùng với thu nhập của người dân ngày càng tăng dẫn đến nhu cầu sở hữu các bất động sản tăng; đồng thời, các cơ sở kinh doanh hoạt động vui chơi giải trí ngày càng đầu tư phát triển, thu hút được nhiều người tham gia nên làm cho doanh thu của dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng (tăng 8,7%); cùng với, nhu cầu thuê đồ dùng cá nhân, chăm sóc, làm đẹp, cắt tóc gội đầu, uốn sấy của người dân ngày càng tăng, đã làm cho doanh thu hoạt động dịch vụ tăng.
          7.4. Hoạt động vận tải
            Số lượng hành khách vận chuyển tháng 12/2017 ước đạt 1.797,1 ngàn lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 317,73 triệu lượt hành khách.km. So với tháng trước tăng 1,41% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 1,96% về lượt hành khách.km luân chuyển. Tính chung năm 2017, số lượng hành khách vận chuyển ước đạt 21.343 ngàn lượt hành khách với khối lượng luân chuyển là 3.688,18 triệu lượt hành khách.km. So cùng kỳ năm trước tăng 4,9% về lượt hành khách vận chuyển và tăng 6,17% về lượt hành khách.km luân chuyển.
            Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 12/2017 ước đạt 2.781,1 ngàn tấn với khối lượng luân chuyển là 74,35 triệu tấn.km hàng hóa. So với tháng trước tăng 1,57% về khối lượng vận chuyển và tăng 2,68% về khối lượng luân chuyển. Tính chung năm 2017, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 31.787,5 ngàn tấn với khối lượng luân chuyển là 811,43 triệu tấn.km hàng hóa. So cùng kỳ năm trước tăng 5,85% về khối lượng vận chuyển và tăng 7,08% về khối lượng luân chuyển.
          Nhìn chung, hoạt động vận tải năm 2017 vẫn tăng so với cùng kỳ năm 2016, nhưng chỉ tăng nhẹ. Hoạt động vận tải hành khách tăng nhờ mở thêm các tuyến xe bus mới đưa vào khai thác trong năm như tuyến thành phố Hà Tĩnh – Lộc Hà – Nghi Xuân – thành phố Vinh, tuyến thành phố Hà Tĩnh – Thiên Cầm; ngoài ra, nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng lao động nước ngoài, một số đơn vị cung cấp thêm loại hình vận tải xe cá nhân chất lượng cao đi đến đưa đón lượt khách các tỉnh có sân bay hàng không trong nước nên làm cho vận tải hành khách tăng. Còn đối với hoạt động vận tải hàng hóa thì vẫn tăng nhưng với mức tăng thấp, hiện trên địa bàn tỉnh không có nhiều công trình dự án xây dựng cơ bản mới được triển khai nên nhu cầu vận tải hàng hóa tăng không lớn; nhưng nhờ sự phục hồi của nền kinh tế, nổi bật là các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu hàng hóa, thương mại mà hoạt động vận tải hàng hóa tăng trưởng đều ở cả khối doanh nghiệp và cá thể; bên cạnh đó, những năm gần đây, tỉnh chủ trương xiết chặt việc vận chuyển quá tải nên các đơn vị mạnh dạn loại bỏ dần những phương tiện nhỏ, mở rộng đầu tư, mua sắm phương tiện theo hướng tải trọng lớn hơn, nên số lượng phương tiện, tổng trọng tải tăng hơn. Tất cả những yếu tố đã góp phần làm cho hoạt động vận tải năm 2017 tăng so với năm 2016.
         7.5. Chỉ số giá tiêu dùng
          Chỉ số chung giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2017 tăng  0,34% so với tháng trước (khu vực thành thị tăng 0,29% và khu vực nông thôn tăng 0,38%), tăng 2,46% so với cùng kỳ năm 2016. Nguyên nhân chính tác động làm tăng CPI tháng 12 năm 2017 là:   
(1) Giá điện được Bộ Công thương điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân  ngày 01 tháng 12 năm 2017. Giá điện bình quân khu vực thành thị 2.015 đ/kw, khu vực nông thôn 1.626 đ/kw;
(2) Giá xăng, dầu bình quân trong tháng 12 tăng đã tác động trực tiếp đến nhóm giao thông và chi phí của các nhóm mặt hàng khác tăng;
(3) Tình hình dịch bệnh lở mồm long móng ở gia súc bùng phát tại các huyện Hương Khê, Cẩm Xuyên gây ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, tác động đến giá thịt lợn giảm và làm cho thực phẩm khác biến động.
          - Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chỉ có 04 nhóm hàng hóa có chỉ số giá ổn định so với tháng trước đó là: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông; nhóm giáo dục và nhóm hàng hóa, dịch vụ khác.
- Có 01/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước đó là:
+ Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33% so với tháng trước và chủ yếu giảm ở hai mặt hàng thực phẩm. Trong đó:
Các mặt hàng lương thực tăng 0,75% so với tháng trước và tăng chủ yếu ở các mặt hàng gạo, ngô và khoai. Do nguồn cung về gạo trong tỉnh giảm, phải nhập từ tỉnh khác, cùng với chi phí vận chuyển tăng nên làm cho giá gạo tăng 0,89%; đồng thời, giá ngô tăng 4,01% và khoai tăng 3,45% do chịu tác động từ tình hình hoạt động chăn nuôi tăng trở lại những tháng cuối năm, đã làm cho chỉ giá của nhóm này tăng so với tháng trước.
Các mặt hàng thực phẩm giảm 0,74% và chủ yếu do giá các loại rau củ quả giảm 2,82% vì các loại rau vụ đông bước vào thu hoạch như rau cải các loại, cà chua, khoai tây, đỗ quả đều giảm mạnh. Các loại mặt hàng tăng gồm thịt gia súc tươi sống (thịt lợn, thịt bò) tăng 1,10%; thịt gia cầm tăng 0,44%; trứng tăng 1,95%; dầu mỡ tăng 1,27%; các loại đậu và hạt tăng 0,76%. Trong đó, giá thịt lợn mông sấn ở mức 70.000 – 75.000 đ/kg, thịt ba chỉ mức 65.000 – 70.000 đ/kg, thịt nạc thăn 75.000 – 80.000 đ/kg.
Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,19% so tháng trước. Việc giá các loại thực phẩm và nguyên liệu chế biến đầu vào trong những tháng gần đây như gạo, thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm tăng khiến các cơ sở kinh doanh ăn uống điều chỉnh tăng giá nên làm cho chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng.
- Còn lại có 06/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể:
+ Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,44% so tháng trước. Do một số mặt hàng thuốc lá bán lẻ tăng giá. Hiện tại, thuốc lá Vinataba có giá 20.000 đ/gói, thuốc 555 giá 27.000 đ/gói.
+ Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,69% so tháng trước. Do tháng 12, thời tiết rét đậm và giá buốt, nên nhu cầu các loại trang phục giữ ấm như áo khoác, áo len, găng tay, bít tất tăng, làm tăng mức giá các loại mặt hàng này.
+ Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,91% so tháng trước. Trong tháng, chịu ảnh hưởng bởi yếu tố chi phí vận chuyển dẫn tới các mặt hàng vật liệu bảo dưỡng nhà ở như sắt thép, cát sỏi đều tăng giá. Giá cho thuê nhà trọ cũng được điều chỉnh theo. Trong khi đó, mặc dù sản lượng tiêu thụ giảm nhưng do giá bán lẻ điện sinh hoạt được điều chỉnh tăng dẫn tới giá điện sinh hoạt tăng. Tất cả những yếu tố này làm cho chỉ số giá chung của nhóm này tăng.
+ Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,24% so tháng trước. Tuy giá các mặt hàng điện lạnh như tủ lạnh, điều hòa giảm do nhu cầu tiêu thụ giảm, nhưng các sản phẩm máy giặt và đồ dùng gia đình nhỏ lẻ đều được điều chỉnh tăng; text-align: justify; text-indent: 36pt; line-height: 110%; background-image: initial; background-position: initial; background-size: initial; background-repeat: initial; background-attachment: initial; background-origin: initial; background-clip: initial;">+ Nhóm giao thông tăng 0,64% so tháng trước. Do xu hướng tiêu thụ mặt hàng xe máy điện trong dân cư tăng nên giá của mặt hàng này được điều chỉnh tăng. Bên cạnh đó, dù trải qua hai lần điều chỉnh trong tháng 12, tăng giá dầu diezel và giữ nguyên giá xăng, nhưng tính bình quân cả tháng, giá nhóm mặt hàng xăng dầu vẫn tăng 2,07%. Mặt khác, trong tháng từ ngày 15/12/2017, tại các cửa hàng thuộc hệ thống của Petrolimex và PVOil vốn chiếm đa số thị phần tiêu thụ trên địa bàn tỉnh đã chuyển sang kinh doanh mặt hàng xăng sinh học E5 thay thế cho xăng A92 có giá cao hơn. Tất cả yếu tố này đã làm cho chỉ số giá của nhóm này tăng so với tháng trước.
+ Nhóm văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,04% so tháng trước. Nguyên nhân tăng so tháng trước do một số loại mặt hàng thú nhồi bông tăng giá, phát sinh bởi nhu cầu làm quà tặng trong tháng 12 tăng.
- Chỉ số giá vàng 9999 giảm 0,19% so với tháng trước và tăng 5,88% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường giá vàng trong tháng qua nhìn chung có xu hướng giảm. Bình quân giá vàng trong tháng là 3.584,6 nghìn đồng/chỉ, giảm 4,35 nghìn đồng/chỉ so với tháng trước. Giá vàng vào ngày 22/12/2017 ở mức giá 3.550 nghìn đồng/chỉ.
- Chỉ số giá Đô la Mỹ giảm 0,03% so với tháng trước và giảm 1,25% so với cùng kỳ năm trước. Giá USD bình quân tại thị trường Hà Tĩnh mức giá bán ra 2.277,1 nghìn đồng/100USD, giảm 0,7 nghìn đồng/100USD so tháng trước. Giá USD tự do ngày 22/12/2017 ở mức giá 2.280 nghìn đồng/100USD.    
Tính chung cả năm 2017, chỉ số giá tiêu dùng bình quân chung tăng 3,8% so với năm trước. Do Nhà nước quản lý chi phối gồm xăng dầu, điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, giáo dục đều được điều chỉnh tăng giá. Việc tăng giá các mặt hàng này đã gây tác động, tạo ra sức ép với toàn bộ thị trường tiêu dùng hàng hóa trong tỉnh. Hầu hết các nhóm đều có chỉ số giá tăng so năm trước, ngoại trừ các nhóm lương thực, thực phẩm và nhóm bưu chính viễn thông. Việc giá các sản phẩm nhóm chăn nuôi giảm giá mạnh đã tác động làm cho nhóm thực phẩm giảm 1,79% và nhóm lương thực giảm 0,16%. Trong khi đối với nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,84%, do ảnh hưởng của xu thế kinh doanh chung, với sự ra đời của các dịch vụ OTT cho phép nhắn tin và gọi điện thoại miễn phí bằng internet đã làm cho các nhà mạng phải giảm giá các dịch vụ gọi thoại thông thường.
          Dự kiến chỉ số giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tháng 01/2018 sẽ tăng so với tháng 12/2017. Do giá bán điện tăng và lượng điện tiêu thụ dự kiến tăng khiến giá điện sinh hoạt bình quân tăng; giá xăng dầu sau khi giữ nguyên trong những lần điều chỉnh trong tháng 12 dự kiến sẽ bị điều chỉnh tăng; cùng với đó, do ảnh hưởng tháng cận Tết âm lịch, dự kiến các mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, hàng may mặc tăng giá, sẽ làm cho chỉ số giá tháng 01 năm 2018 tăng.
            Để đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân và kiềm chế, bình ổn giá những ngày cuối tháng trong năm và hai tháng đầu năm 2018 sát với Tết Nguyên đán Mậu Tuất, cần có những giải pháp quản lý chặt chẽ, chống hàng giả, buôn lậu gian lận thương mại, đầu cơ tích trữ gây khan hiếm giả tạo để nâng giá trong giai đoạn tới. Đồng thời, tiếp tục kiềm chế giá xăng dầu và có kế hoạch tăng giá viện phí theo lộ trình.
          8. Các vấn đề xã hội
          8.1. Dân số, lao động việc làm và đời sống dân cư
          - Dân số: Ước tính quy mô dân số năm 2016 là 1.271.460 người, tăng 0,37% so với năm 2016 (tăng 4.737 người). Trong đó: Dân số nam là 624.540 người, tăng 0,33%, chiếm tỷ lệ 49,12% và dân số nữ là 646.920 người, tăng 0,41%, chiếm tỷ lệ 50,88%; dân số khu vực thành thị 232.767 người, tăng 1,11%, chiếm tỷ lệ 18,31% và khu vực nông thôn 1.038.693 người, tăng 0,21%, chiếm tỷ lệ 81,69%.
           - Lao động, việc làm: Trong điều kiện nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn nhưng với sự chỉ đạo quyết tâm của Chính phủ và các cấp chính quyền trong việc chống suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống người lao động mà trong đó công tác giải quyết việc làm là nhiệm vụ cấp thiết. Ước tính năm 2017, Hà Tĩnh giải quyết việc làm cho 23.576 lao động, tăng 7,23% so với năm 2016, trong đó: Thành thị 11.632 người, tăng 7,97% và nông thôn 11.944 người, tăng 6,52%; lao động được giải quyết việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh 11.470 người, xuất khẩu lao động 8.576 người, lao động đi làm việc ngoại tỉnh 3.530 người.
          Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên ước năm 2017 là 725.300 người, chiếm 57,04% trong tổng dân số toàn tỉnh, tăng 0,95% so với năm 2016; số lao động đang làm việc là 706.890 người (chiếm 97,46% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), số người không có việc làm (thất nghiệp) là 18.410 người (chiếm 2,54% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên). Khi phân lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc theo ngành kinh tế ta thấy: Ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có 387.423 người, tăng 0,59%; công nghiệp xây dựng 102.605 người, tăng 2,23%; dịch vụ 216.862 người, tăng 1,58% so với năm 2016.
          - Đời sống dân cư: Tình hình đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2017 nhìn chung ổn định. Đời sống cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và lao động hưởng lương, nhờ sự thay đổi mức lương tối thiểu từ 1.210 nghìn đồng lên 1.300 nghìn đồng; mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng tăng thêm 7,44% nên đời sống được cải thiện hơn. Trong năm, tỉnh đã tiến hành chi trả 1.598,84 tỷ đồng cho người dân chịu ảnh hưởng của sự cố môi trường biển, phân bổ 2.005,91 tấn gạo cho các địa phương bị ảnh hưởng do bão số 4, mưa lũ gây ra năm 2016 và phân bổ 2.525,85 tấn gạo hỗ trợ cứu đói cho các hộ dân bị ảnh hưởng do bão số 10 năm 2017 gây ra. Do đó, tuy tình hình sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, nhưng với sự quan tâm và hổ trợ kịp thời; cùng với người dân cũng tranh thủ những lúc nhàn rỗi làm thêm các công việc khác để tạo thêm thu nhập nên đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian qua vẫn được đảm bảo. Dự kiến thời gian tới tình hình thiếu đói ở Hà Tĩnh sẽ không xảy ra.
          8.2. Công tác đảm bảo an sinh xã hội
  - Công tác giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, kế hoạch, đề án, dự án về giảm nghèo bền vững; chính sách an sinh xã hội trên các lĩnh vực: Giảm nghèo, giải quyết việc làm, đào tạo nghề, cải thiện nhà ở cho người có công, gia đình nghèo...Tập trung ưu tiên cho các vùng khó khăn nhằm tạo điều kiện để người dân được hưởng lợi từ các chương trình, dự án một cách hiệu quả nhất.
          Theo kết quả công tác điều tra xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020, tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 là 8,57%, giảm 1,89 điểm % và tỷ lệ hộ cận nghèo là 7,78%, giảm 0,61 điểm % so với năm 2015. Tốc độ giảm nghèo cơ bản đạt mục tiêu đề ra, tuy nhiên kết quả giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các địa phương còn cao; số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn. Thời gian tới, các hộ nghèo, hộ cận nghèo cần phải tham gia vào chuỗi sản xuất, tránh ỷ lại, thông qua các tổ chức hội để tạo động lực mới giúp đỡ các hộ nghèo, cận nghèo vươn lên phát triển kinh tế.
          - Công tác an sinh xã hội: Các chế độ, chính sách đối với người có côngđối tượng bảo trợ xã hội đã được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo đúng quy định. Đã chi trả trợ cấp thường xuyên cho 68.000 đối tượng bảo trợ xã hội với kinh phí hơn 20 tỷ đồng, cấp 96.294 thẻ BHYT cho hộ nghèo, 168.885 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, 173.902 thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi và 71.787 thẻ BHYT cho người có công.
Huy động nhiều nguồn lực để tặng 404.017 suất quà với tổng số tiền 73,724 tỷ đồng, trong đó: Người có công 259.040 suất với số tiền 44,305 tỷ đồng; người cao tuổi 44.032 suất với số tiền 4,22 tỷ đồng; quà đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 18.905 suất với số tiền 2,96 tỷ đồng; quà người nghèo 35.770 suất với số tiền 11,769 tỷ đồng; quà trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các đối tượng khác 49.270 suất với số tiền 10,47 tỷ đồng. Nhìn chung, công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời, các cấp, các ngành đã làm tốt công tác huy động nguồn lực, tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có côngđối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn.
- Thực hiện chính sách đối với người có công: Làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa đối với các đối tượng chính sách, người có công. Đã trao 187 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách, trị giá 576,1 triệu đồng; xây mới 185 nhà tình nghĩa, trị giá 6.889 triệu đồng và sữa chữa 171 nhà với tổng giá trị là 3.641 triệu đồng.
Cùng với việc giải quyết kịp thời các chế độ, chính sách đối với người có công, các gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, Hà Tĩnh cũng tích cực đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”. Phát huy truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh Hà Tĩnh tổ chức lễ tặng, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 8 cho 52 mẹ; tổ chức đón nhận, an táng 12 hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện, chuyên gia Việt nam hi sinh tại Lào về Nghĩa trang Quốc gia Nầm, huyện Hương Sơn.
          8.3. Giáo dục và Đào tạo
         a. Giáo dục phổ thông
    Năm học 2016-2017, chất lượng giáo dục Hà Tĩnh vẫn được giữ vững; chất lượng mũi nhọn đạt nhiều thành tích nổi bật, giành 1 HCV Olympic toán quốc tế, 1 HCB Olympic tin học Châu Á - Thái Bình Dương, xếp thứ 5 toàn quốc về số lượng sinh giỏi quốc gia (gồm 77 giải: 02 giải nhất, 22 giải nhì, 31 giải ba và 22 giải khuyến khích), các cuộc thi khoa học kỹ thuật và thi về kỹ năng mềm của học sinh đều đạt giải cao; kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS tiếp tục được củng cố vững chắc. Kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 được tổ chức tốt và đạt kết quả cao.
          Năm học 2017-2018 tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; vận dụng triển khai các thành tố tích cực của mô hình trường học mới; chú trọng công tác bồi dưỡng chính trị cho đội ngũ cốt cán; tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên toàn ngành, cụ thể: toàn tỉnh có 726 trường, tăng 03 trường so với cuối năm học 2016 - 2017 (gồm 272 trường mầm non, tăng 03 trường;  259 trường tiểu học, 151 trường THCS và 44 trường THPT, so với năm trước không thay đổi) với 10.138 lớp (mẫu giáo 2.818 lớp, tiểu học 3.756 lớp, THCS 2.385 lớp, THPT 1.179 lớp) và 18.518 giáo viên (mầm non 5.328 người, tiểu học 5.303 người, THCS 4.946 người, THPT 2.941 người) và  308.781 học sinh (nhà trẻ 13.693 em, mẫu giáo 73.080 em, tiểu học 102.746 em, THCS 75.457 em và THPT 43.805 em).
    Bên cạnh đó, ngành giáo dục Hà Tĩnh cũng đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm bổ sung trang thiết bị dạy học; hệ thống trường, lớp đảm bảo các điều kiện về vệ sinh. Huy động được các nguồn lực trong xã hội tăng cường cơ sở vật chất cho trường học, xây dựng đạt chuẩn Quốc gia. Đầu tư 222 tỷ đồng, trong đó trái phiếu Chính phủ hỗ trợ 180 tỷ đồng xây dựng cơ sở vật chất trường học, xây mới 274 phòng học.
          b. Giáo dục đào tạo:
          Năm học 2017-2018 ngành Giáo dục - Đào tạo Hà Tĩnh vẫn tiếp tục  đổi mới công tác quản lý; chăm lo đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; phát triển mạng lưới trường, lớp và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. Chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn Hà Tĩnh năm học 2017-2018 là 1.825 chỉ tiêu (so với năm học 2016-2017 giảm 28,15%), trong đó: Trường Đại học Hà Tĩnh tuyển sinh 1.410 chỉ tiêu (hệ đại học 1.200 chỉ tiêu, hệ cao đẳng 210 chỉ tiêu); các trường cao đẳng chỉ tuyển sinh 415 chỉ tiêu hệ cao đẳng.
          Ngoài nhiệm vụ đào tạo hệ chính quy các trường còn liên kết đào tạo hệ liên thông, hệ vừa học vừa làm, dạy nghề và bồi dưỡng nghiệp vụ như: trường Đại học Hà Tĩnh liên kết đào tạo Đại học cho khu kinh tế Vũng Áng là 800 chỉ tiêu, 06 lớp thạc sĩ liên kết, 11 lớp liên kết với Đại học Vinh đặt tại các huyện; trường Cao đẳng Y tế liên kết với trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương đào tạo 24 học viên, liên kết với Trung cấp Y tế Hà Nội đào tạo 172 học viên; trường Cao đẳng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Du liên kết với trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa đào tạo 26 học viên cao đẳng quản lý văn hóa và sư phạm nhạc.
          Cùng với sự phát triển của giáo dục chuyên nghiệp, chất lượng dạy nghề ngày càng được nâng cao. Các cơ sở đào tạo luôn quan tâm chú trọng công tác giới thiệu, giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Mở thêm các ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, có định hướng, khảo sát tiềm năng và tính bền vững của nghề đào tạo. Trong năm 2017 đã tổ chức dạy nghề cho 5.124 người, trong đó: Trình độ cao đẳng nghề 322 người, trung cấp nghề 890 ngườisơ cấp nghề 2.492 người và dạy nghề dưới 3 tháng 1.420 người.
            8.4. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng
          Năm 2017, ngành Y tế Hà Tĩnh đã Triển khai nhiều dịch vụ kỹ thuật mới tại các bệnh viện; từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; công tác chuyển giao kỹ thuật, chỉ đạo tuyến được triển khai thường xuyên, đạt kết quả tích cực; tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt 85%, số bệnh nhân điều trị nội trú tăng 7% cùng kỳ. Đồng thời, tăng cường và duy trì giám sát bệnh truyền nhiễm tại tất cả các tuyến nhằm phát hiện sớm trường hợp mắc mới để có biện pháp khống chế kịp thời, không để dịch lớn xảy ra, không có tử vong do dịch bệnh. Nhờ vậy, chất lượng phục vụ từng bước được cải thiện, ngày càng tạo được niềm tin và sự hài lòng của nhân dân. Cụ thể công tác y tế năm 2017 đã đạt được những kết quả sau:
          - Tình hình dịch bệnh: Năm 2017, trên địa bàn Hà Tĩnh có 15 trường hợp mắc tay-chân-miệng; 858 trường hợp sốt rét, chủ yếu là những người đi làm ăn xa trở về và 190 trường hợp sốt xuất huyết. Các dịch bệnh trên đã được ngăn chặn kịp thời nên không có trường hợp nào bị tử vong.
    - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Năm 2017, Hà Tĩnh có 90 trường hợp nhiễm HIV (tăng 37 trường hợp so cùng kỳ với năm trước), có 147 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS (tăng 96 người) và có 61 trường hợp chết vì AIDS (tăng 47 người).
          - Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm: Năm 2017 trên địa bàn Hà Tĩnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể nào, chỉ có 2.081 ca ngộ độc thực phẩm đơn lẻ (giảm 27,89% so với cùng kỳ năm trước) và không có trường hợp nào chết vì ngộ độc thực phẩm.
          8.5. Hoạt động văn hoá, thể thao
          - Hoạt động văn hóa:  Tập trung chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ đạo thay đổi nội dung tuyên truyền ở các cụm panô, áp phích tấm lớn trên địa bàn, hướng dẫn cơ sở tổ chức sinh hoạt CLB văn hóa, văn nghệ, các hoạt động thể dục thể thao cũng như treo cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu... chào mừng các ngày lễ của quê hương, đất nước, với nhiều loại hình phong phú, đa dạng, nội dung bổ ích, lành mạnh như: kỷ niệm 60 năm ngày Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh, 10 năm thành lập thành phố Hà Tĩnh, 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ, khai trương mùa du lịch biển 2017. Đồng thời, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, nhất là các di sản văn hóa được UNESCO vinh danh như: Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh, Ca Trù, Mộc bản Trường Lưu; công nhận 17 di tích lịch sử văn hóa đợt I/2017, đến nay đã có 529 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng: 02 di tích quốc gia đặc biệt, 77 di tích cấp quốc gia và 450 di tích cấp tỉnh; tổ chức lễ vinh danh và trao bằng cho 11 nghệ nhân dân gian.
   - Công tác thanh tra, kiểm tra văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp các huyện và các ngành liện quan,thực hiện 05 đợt kiểm tra, thanh tra các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa, trò chơi điện tử gảm online, dịch vụ tải phim, tải nhạc, công tác quản lý các di tích và tổ các hoạt động lễ hội. Qua kiểm tra đã đình chỉ 07 đơn vị, cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú không đảm bảo cơ sở vật chất để đon khách, xử lý vi phạm 04 tổ chức và 10 cá nhân, với số tiền 46 triệu đồng.
          - Hoạt động thể thao: Bên cạnh hoạt động thể thao thành tích cao thì hoạt động thể thao quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và được nhiều người cùng hưởng ứng như: Giải bóng chuyền nam năm 2017 - Đại hội TDTT toàn tỉnh lần thứ VIII tổ chức tại Thị xã Hồng Lĩnh; giải Quần vợt Cúp Truyền hình Hà Tĩnh lần thứ II – 2017 tại Khu liên hợp thi đấu thể thao tỉnh; giải bóng đá Thiếu niên-nhi đồng thuộc chương trình thi đấu chính thức của Đại hội TDTT toàn tỉnh lần thứ VIII; giải Bóng chuyền nam Công an tỉnh Hà Tĩnh...
Thể thao thành tích cao đã đạt được những thành tích đáng khích lệ. Kết quả, năm 2017 đoàn Hà Tĩnh tham gia 22 giải thể thao trong nước và quốc tế, giành được 78 huy chương các loại: gồm 21 HCV, 24 HCB và 33 HCĐ.
             8.6. Tai nạn giao thông
    Theo số liệu tổng hợp nhanh từ Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh, từ ngày tính từ ngày 16/12/2016 đến ngày 15/12/2017 trên địa bàn toàn tỉnh đã xảy ra 144 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 02 vụ tai nạn đường sắt làm chết 136 người, bị thương 77 người, ước tính thiệt hại tài sản là 1.120 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 36 vụ tai nạn giao thông đường bộ và 01 vụ tai nạn đường sắt, giảm 21 người chết và giảm 18 người bị thương. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành an toàn giao thông của người tham gia giao thông còn hạn chế, không làm chủ tốc độ và đi sai phần đường.
  8.7. Tình hình thiên tai
          Năm 2017, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh xảy ra 05 đợt thiên tai, cụ thể: đợt mưa to do ảnh hưởng của rãnh áp thấp bị nén bởi áp cao lạnh lục địa từ ngày 24-25/5/2017; bão số 02 từ ngày 15-17/7/2017; bão số 04 từ 23-27/7/2017; bão số 10 xảy ra vào ngày 15/9/2017 và đợt mưa to do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới vào ngày 09/10/2017.
           Năm đợt thiên tai đã làm chết 03 người (có 02 người bị chết trong quá trình khắc phục hậu quả do bão số 10 gây ra), bị thương 16 người; 362 nhà bị sụp đổ, 2.512 nhà bị ngập nước, 100.628 nhà ở bị sạt lở, tốc mái và bị hư hỏng nhẹ; 1.229 phòng học bị ngập và hư hại một phần, 70 trạm y tế bị hư hỏng và 9 phòng khám bị ngập, 42 trụ sở cơ quan bị hư hỏng và 28 nhà văn hóa xóm bị hư hỏng nặng; 2.906 cột điện bị đổ, 29 trạm biến áp bị ngập và hư hại, 24 cột dây thông tin bị đổ, 52 cột treo cáp bị gãy đổ, 02 cột phát sóng truyền hình bị gãy đổ, 16 cột ăng ten bị gãy đổ, 187,1 km dây điện bị đứt và 4 km đường dây thông tin bị hư hỏng; 29.321 m chiều dài các đoạn đê bị sạt lở, 34.105 m chiều dài kênh mương bị sạt lở cuốn trôi; 464 tàu bị phá hủy, chìm và hư hại, 164 số lượng công trình phai đập, cống bị hư hỏng, 2.217 cầu cống bị hư hỏng và phá hủy, 32,8 km chiều dài đường xe cơ giới bị sạt lở, 113,69 km đường xe cơ giới bị ngập, 6.585 m3 đất, đá bê tông  bị sạt lở cuốn trôi; 11.008 ha lúa, 1.912 ha mạ và 5.684 ha cây hàng năm khác bị ngập và hư hỏng; 802 ha cây phòng hộ, 2.728,8 ha cây lâu năm (trong đó có 1.621,8 ha cây ăn quả), 18.303 ha cây lâm nghiệp và 2.000,7 ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; số trâu, bò bị chết là 18 con, số lợn bị chết là 2.176 con, số gia cầm bị chết là 87,34 ngàn con. Tổng giá trị thiệt hại ước tính là 7.581,4 tỷ đồng (trong đó ước tính giá trị thiệt hại do bão số 10 gây ra 6.600 tỷ đồng).
          Ngay sau khi mưa bão xảy ra, Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai tỉnh đã chỉ đạo các địa phương kiểm tra thực tế, thăm hỏi và hỗ trợ các gia đình có người chết và bị thương, nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai. Sở Giao thông Vận tải phối hợp với các địa phương huy động lực lượng, phương tiện tổ chức thu dọn khối lượng đất đá bị sạt lở để thông xe. Các huyện, đoàn viên thanh niên và hàng nghìn lượt cán bộ chiến sỹ cùng người dân địa phương đã tập trung khắc phục hậu quả, vệ sinh nhà cửa, trường học, trạm y tế đảm bảo cho hoạt động của người dân trở lại bình thường. Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ khắc phục tổn thất sau bão, đặc biệt là cơn bão số 10, Trung ương và các tổ chức, cá nhân đã hỗ trợ 70,95 tỷ cho vùng bị ảnh hưởng nặng nhất, trong đó: Trung ương hỗ trợ 40 tỷ đồng xây dựng lại 2 cột phát sóng truyền hình tại huyện Hương Khê và thị xã Kỳ Anh bị đổ, gãy do bão số 10 gây ra.
          8.8. Tình hình cháy, nổ và bảo vệ môi trường
          - Tình hình cháy, nổ: Năm 2017, trong khu vực dân sự đã xẩy ra 65 vụ cháy, so với kỳ năm trước giảm 33 vụ cháy. Trong đó: Cháy nhà dân 19 vụ; cháy đường dây điện 07 vụ, 07 vụ cháy rừng và 32 vụ cháy khác. Nguyên nhân chủ yếu là do chập điện và bất cẩn trong việc sử dụng lửa của người dân. Bên cạnh đó, còn xảy ra 03 vụ nổ (trong đó có 02 vụ nổ lò vôi  nhà máy Fomosa), làm chết 01 người và bị thương 02 người. Tổng giá trị thiệt hại cháy nổ ước tính 3,61 tỷ đồng.
          - Công tác bảo vệ môi trường: Tăng cường quản lý khai thác khoáng sản và công tác bảo vệ môi trường; ban hành quy chế phối hợp quản lý hoạt động khai thác, vận chuyển, tập kết, kinh doanh cát sỏi lòng sông trên địa bàn tỉnh; xử lý các mỏ khoáng sản; tổ chức tốt công tác đấu thầu khai thác cát, sỏi, đá, cơ bản khắc phục được tiêu cực; kiểm tra bảo vệ môi trường tại các cơ sở chăn nuôi giết mổ, sản xuất kinh doanh; nâng cao chất lượng thẩm định môi trường đối với các dự án đầu tư. Phối hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường kiểm tra giám sát chặt chẽ Công ty Formosa khắc phục các lỗi vi phạm sau sự cố môi trường và vận hành lò cao số 1. Năm 2017, Sở Tài nguyên Môi trường đã phối hợp cùng với các ngành liên quan, các huyện, thị xã, thành phố kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh về an toàn vệ sinh môi trường. Qua công tác kiểm tra đã phát hiện và xử lý 113 vụ vi phạm môi trường, với số tiền 528 triệu đồng.
Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh năm 2017

Thêm nhận xét mới

 Bình luận của bạn đã được gửi thành công. Cảm ơn bạn!   Làm mới
Lỗi: Vui lòng thử lại